• Cá cảnh

    Hotline: 012.5800.5800

  • thiết bị nuôi

    hotline: 012.5800.5800

  • Giống thủy đặc sản

    Hotline: 012.5800.5800

  • Thuốc và hóa chất

    Hotline: 012.5800.5800

Showing posts with label Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh. Show all posts
Showing posts with label Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh. Show all posts

Bệnh vi khuẩn trên tôm càng xanh mùa nước kiệt



 Một số bệnh thường gặp
1/ Bệnh đóng rong
Lý do  của bệnh đóng rong là do Zoothamnium sp. hoặc các loại Protozoa bám trên vỏ và mang tôm làm tôm stress nếu bị nặng thường tôm sẽ không thể lột vỏ được. Nếu người nuôi tôm không trị được thì sau này tôm sẽ từ từ bỏ ăn, yếu đi và chết. 
Nhận diện bệnh đóng rong và cách kiểm tra: Kiểm tra tôm trong sàn ăn (vó), thấy vỏ tôm trơn giống như có nhớt bám trên vỏ tôm và có nhiều khi thấy có rong / tảo bám trên vỏ tôm,vỏ tôm không sạch. Kiểm tra trong phòng thí nghiệm bằng Kính hiển vi sẽ thấy Zoothamnium sp. bám trên vỏ và chân tôm. Sau khi bị nhiễm bệnh, tôm từ từ yếu đi, giảm ăn, vào nằm vùi trong đống bùn ao. Nếu không trị tôm sẽ từ từ chết vì nhiễm bệnh từ các vi khuẩn. 
Cách trị bệnh: Giảm số lượng các chất hữu cơ trong ao bằng cách thay nước (nếu có ao lắng nước). Giảm thức ăn xuống từ 5 - 10 % trong một thời gian (để giảm chất hữu cơ thừa). Dùng các vi sinh vật có lợi ích để phân hủy các chất hữu cơ (Ví dụ: Bacillus subtilis 1070 hoặc BS-I). Dùng Formalin (thuốc để diệt Zoothamnium sp. vào buổi tối). 
Chú ý:  Trong thời gian tôm đang bị bệnh nên trộn Vitamin C vào thức ăn để giúp tôm giảm stress.
2/ Bệnh đen mang
Bệnh đen mang (có thể thấy màu vàng) thường có nguyên nhân từ đáy ao nuôi không sạch, có chất hữu cơ nhiều. Kiểm  tra thấy khí độc (Ammonia) ở đáy ao cao vì có bùn đáy ao nhiều, các chất hữu cơ thừa nhiều (từ thức ăn thừa - do thức ăn nhiều tôm ăn không hết, từ tảo chết v.v..). Thường phát hiện bệnh này trong ao nuôi thả tôm mật độ cao, trong ao nuôi theo hệ thống không thay nước hoặc ít thay nước. Ammonia sẽ làm ảnh hưởng tới mang tôm làm mang có màu đen và nhiều khi có các chất hữu cơ hoặc vô cơ vào trong mang tôm, nếu không xử lý sẽ làm tôm nhiễm bệnh từ vi khuẩn. Bình thường bệnh đen mang xảy ra lúc tôm lớn (tôm được hai tháng rưỡi tới ba tháng trở lên). 
Cách xử lý: Thay nước ao (nên có ao xử lý nước trước khi sử dụng nước). Dùng Granulite (Zeolite dạng hạt) để hấp thụ các khí độc đáy ao mỗi 5 -7 ngày một lần. Có thể dùng thêm kháng sinh theo đúng hướng dẫn kỹ thuật pha trộn với thức ăn cho tôm để phòng trị bệnh từ vi khuẩn (nên dừng sử dụng thuốc kháng sinh trước khi thu hoạch bốn tuần.  Dùng vi sinh vật (BS-I ) để giúp phân hủy chất hữu cơ . 
Cách phòng bệnh: Quản lý việc cho thức ăn tôm cho tốt, đừng để cho thức ăn thừa nhiều trong ao. Dùng loại thức ăn chất lượng cao. Nên có ao lắng nước để xử lý nước và thay nước khi thấy cần thiết (kiểm tra thấy Ammonia nhiều  hơn 0,1 ppm). Nếu không thể thay nước được nên dùng vi sinh vật nói trên để giúp phân hủy chất hữu cơ đáy ao và kết hợp với dùng Zeolite (loại có thể hấp thụ Ammonia được như: Asahi Zeolite /Sitto Zeolite/ Granulite) để quản lý chất khí độc trong và đáy ao nuôi. 
3/ Bệnh đốm nâu hay  Bệnh ăn mòn phụ bộ
Bệnh thường xảy ra sau khi nuôi 2-3 tháng trở đi, trên cơ thể tôm xuất hiện các đốm màu nâu và sau đó chuyển sang màu đen. Khi nhiễm bệnh, thường xuất hiện ăn mòn các phần phụ như đuôi, chân bụng, râu, trên thân tôm.
Tôm bị bệnh sẽ rất yếu, hoạt động chậm chạp, con bị nặng sẽ chết. Tác nhân gây ra bệnh chủ yếu do vi khuẩn Aeromonas.
Phòng trị: Khi tôm bị bệnh thay dần nước ao. Kiểm soát phòng ngừa bênh đốm nâu bao gồm: cải thiện môi trường nuôi thông qua sự chăm sóc, quản lý và đầy đủ dinh dưỡng, đáy ao phải bằng phẳng, tăng cường trú ẩn cho tôm, hạn chế tối đa sự tụ tập của tôm chống hiện tượng ăn thịt lẫn nhau bằng cách cung cấp đầy đủ thức ăn và giữ cho chất lượng nước ao luôn tốt. 
(Trần Anh Dũng, Chi cục Thủy sản An Giang (Website SNN An Giang, 4/2005)



Nuôi tôm càng Hồ Tây



 Tôm càng Hồ Tây còn gọi là tôm xanh tên khoa học là Macrobrachium nippovensis phân bố rộng ở sông, suối, ao, hồ chứa, ruộng nước, kênh mương. Tuy không lớn nhưng thịt thơm ngon, giá trị kinh tế cao. Gần đây ở Trung Quốc giá tôm này còn cao hơn tôm càng xanh. Ở Hồ Tây (Hà Nội) sản lượng đạt 30 – 40 tấn (1965). Tôm càng cơ thể dài 5 – 10cm, con lớn nặng 17 – 20g/con. Con đực có lớp vỏ dầy xù xì, chi càng thứ 2 to. Cỡ dài 3 – 4cm có 350 – 500 trứng; 6 – 7cm có 1.000 – 2.200 trứng, 7 – 8 cm có 2.500 trứng. Mùa sinh sản vào tháng 3 - 6 và tháng 8 – 10. Đẻ nhiều lần trong 1 năm. Suốt đời tôm sống ở nước ngọt, lớn lên trong quá trình lột xác nhiều lần, con đực thường lớn hơn con cái, tôm chỉ sống được 1 năm hoặc hơn 1 năm.
Kỹ thuật nuôi:
Nuôi ghép tôm càng trong ao nuôi cá mè.
Diện tích ao: 2.000 – 3.000m2, nước sâu 1 – 1,5m, chủ động lấy và thoát nước, nguồn nước sạch. Mật độ thả 30 – 40 con/m2 (cỡ 2 – 3g/con). Phải tẩy dọn khử trùng ao sạch trước khi thả giống. Cho ăn thức ăn trực tiếp các loại cám gạo, bột đậu xay, bã đậu. Ngày cho ăn 2 lần, sáng sớm và chiều tối. Lượng cho ăn bằng 5 – 7% trọng lượng tôm trong ao.
Quản lý ao: Bón lót phân ban đầu và định kỳ để cung cấp thức ăn tự nhiên cho tôm.
- Không để tôm bị nổi đầu.
- Ao nuôi ghép với cá mè vừa bón phân vừa cho ăn trực tiếp. Sau 5 tháng nuôi đạt năng suất tôm và cá 750 – 1.500kg/ha.
* Cách nuôi đơn giản hơn là thả tôm bố mẹ đã ôm trứng vào ao nuôi cá. Mật độ thả 4 – 5kg/ha. Trước khi thả thử vào giai đặt ở trong ao, tôm đẻ và nở xong vớt tôm mẹ đi, thả tôm con ra ao. Ao cũng phải được tẩy dọn (bón vôi với lượng 30kg/100m2); bón phân gây mầu, bằng phân hữu cơ đã ủ hoai (với lượng 45 – 75kg/100m2).
Chú ý:
- Chỉ nuôi tôm càng với cá không ăn động vật như: Cá mè trắng, cá trắm cỏ, cá trôi. Tránh nuôi ghép tôm càng trong các ao nuôi cá chép, cá diếc, cá rô phi, cá vược, v.v… Ao nuôi tôm càng có thể ghép thêm trai ngọc nước ngọc để tận dụng quan hệ sinh thái cá – tôm – trai để nâng cao hiệu quả nuôi tổng hợp.
                                                                                                                                   NNVN, 21/5/2004

Nuôi tôm càng xanh thương phẩm ở miền núi



 Được Trung tâm Khuyến nông huyện chọn làm điểm xây dựng mô hình trình diễn nuôi tôm càng xanh, ông Bùi Văn Mỹ ở xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã triển khai nuôi trên quy mô 1ha gồm 4 ao.
Chuẩn bị ao nuôi
Bốn ao có diện tích từ 1.500 - 4.500m2, độ sâu từ 1,2 - 1,8m, với bờ ao bao chắc chắn, tiện cấp - thoát nước. Xung quanh ao có xây dựng hệ thống lưới chắn để tránh ếch, cua, cá rô đồng... vào ao hại tôm.
Thả giống
- Đợt 1: Thả 6 vạn con, trọng lượng 1.500 con/kg.
- Đợt 2: Sau đó khoảng 20 ngày, thả 6 vạn con có trọng lượng 1.400 con/kg. Mật độ thả 8 con/m2.
Thức ăn
Thức ăn dùng nuôi tôm gồm cám tổng hợp, kết hợp bón phân chuồng và lá dầm. Tháng đầu cho thức ăn chuyên dùng cho cá có độ đạm cao 36-40%, lượng thức ăn cho ăn bằng 40% trọng lượng tôm.
Các tháng tiếp theo sử dụng cám Con cò, kết hợp với cám gạo, ngô, sắn, lượng thức ăn cho ăn giảm dần từ 20% ở tháng thứ 2, xuống 10% tháng thứ 3, rồi 5% tháng thứ 4 và 3-2% ở tháng thứ 5. Cho tôm ăn 3 lần/ngày vào buổi sáng, chiều và tối, trong đó lượng thức ăn buổi sáng và chiều chiếm 70%. Phân chuồng và lá dầm bón 1 lần/tháng, mỗi loại 10 - 15kg/100m2 ao.
Cấp nước 1 lần/tháng và sử dụng máy quạt nước khi cần thiết.
Phòng bệnh
Định kỳ bón 4kg vôi/100m2/lần/tháng để trừ tạp chất, diệt vi khuẩn gây bệnh cho tôm.
Kết quả là sau 6 tháng nuôi, với diện tích 1ha thu được 1.200kg tôm, cỡ trung bình 30-40g/con, thu lãi hơn 17 triệu đồng.

Hướng dẫn nuôi tôm càng nước ngọt ở Ấn Ðộ



Tôm càng nước ngọt Macrobrachium rosenbergii là đối tượng nuôi ngày càng được chú ý hơn do tốc độ tăng trưởng cao, khả năng chịu đựng tốt và đòi hỏi dinh dưỡng về prôtêin rất thấp. ở ấn Ðộ hiện nay, nuôi tôm càng nước ngọt (TCNN) đã có vị trí nhất định trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất có lãi và là một nguồn thu ngoại tệ. Khi dân số tăng và nhu cầu thực phẩm ngày càng cao, nhiều người bắt đầu nuôi TCNN nhằm đáp ứng nhu cầu này.
Vài năm gần đây, nuôi TCNN ở ấn Ðộ mới được quan tâm phát triển. Sau cơn bộc phát bệnh đốm trắng trong nuôi tôm biển và sự xuất hiện các biện pháp quản lý cải tiến mang lại năng suất cao hơn, ngày càng có nhiều nông dân bắt đầu triển khai nuôi loài tôm này. Tuy nhiên, mặc dù có công nghệ nuôi tiên tiến đạt năng suất cao nhưng hầu hết trại nuôi TCNN ở ấn Ðộ vẫn sử dụng hệ thống nuôi quảng canh. Bài viết này giới thiệu một số hướng dẫn giúp người nuôi tôm tăng sản lượng tôm và hiệu quả bền vững của trại nuôi.
Thu thập giống
ở ấn Ðộ hiện có 2 nguồn giống TCNN : một là giống tự nhiên từ hạ lưu sông và các vùng nước lợ, hai là nguồn giống sản xuất từ trại giống. Tuy nhiên, nguồn giống tự nhiên thường của nhiều loài khác nhau và ở những giai đoạn phát triển khác nhau nên khi thu hoạch, cỡ tôm thường không đồng đều và không đạt cỡ thương phẩm phù hợp. Do vậy, người nuôi tôm cần tách riêng loài có thể nuôi khỏi các loài tôm khác và cần thả giống của loài định nuôi với cỡ bằng nhau hoặc gần bằng nhau. Ðể khắc phục những vấn đề trên, nên sử dụng nguồn giống sản xuất tại trại giống. So với tôm giống lấy từ tự nhiên, tôm giống sản xuất trong trại giống có tỷ lệ sống, khả năng kháng bệnh và sức chống chịu tốt hơn với môi trường.
Nếu có thể, trước khi thả nên thử nghiệm khả năng kháng bệnh của tôm giống. Hiện một số trại giống có thể cung cấp giống sạch bằng cách sử dụng kỹ thuật chẩn đoán phân tử tiên tiến như PCR, ELISA và Latex. Giống được thuần hoá 2-3 ngày trước khi thả vào ao để giúp chúng thích nghi với điều kiện nuôi.
Nuôi lớn
TCNN chủ yếu được nuôi lớn trong ao đất có diện tích từ 500m2 đến 1 ha, độ sâu trung bình 1-1,5m. Thả PL 1-20 và tôm non cỡ 1-2g là phù hợp nhất. Mật độ thả ấu trùng tôm và tôm non phụ thuộc vào cỡ thương phẩm mong muốn và thiết bị tại trại nuôi. Nói chung, cỡ thương phẩm vào thời điểm thu hoạch giảm khi tăng mật độ thả giống. Nên thả tôm giống với mật độ khoảng 5 10/m2 để đạt cỡ phù hợp khi thu hoạch. Khi cỡ ấu trùng tôm lớn hơn, cần tạo nơi trú ẩn bằng cách thả các mảnh ngói vỡ, ống PVC hoặc tảng đất xuống đáy ao nhằm giảm hiện tượng ăn thịt lẫn nhau của chúng trong ao nuôi.
Thức ăn và cách cho ăn trong ao nuôi lớn
Quản lý thức ăn mang tính quyết định để đạt hiệu quả trong nuôi TCNN. Là động vật ăn tạp hoặc thích ăn động vật hơn nên để đạt được tỷ lệ tăng trưởng hợp lý và năng suất cao, chế độ ăn của TCNN cần bao gồm cá tạp, vẹm hoặc thịt nghêu, giun nhỏ, ấu trùng côn trùng và nhuyễn thể nhỏ (cần lưu ý là việc sử dụng các loài giáp xác khác làm thức ăn thường có nguy cơ lây lan bệnh cao). Bên cạnh đó, có thể sử dụng thức ăn bổ sung làm từ bánh dầu lạc, dầu đậu nành, cám gạo, bột mì, bột cá, trứng bổ sung thêm vitamin và chất khoáng để tăng năng suất. Sử dụng thức ăn dạng viên ướt với lượng phù hợp để cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho tôm. Xác định tỷ lệ cho ăn dựa vào cỡ và số lượng tôm, chỉ số về chất lượng nước cũng như đặc tính thức ăn. Nên sử dụng các khay kiểm tra việc cho tôm ăn. Cho ăn bằng khay là phương pháp cho ăn tốt nhất, do không có thức ăn thừa và không làm ô nhiễm môi trường nước. Cũng có thể rải đều thức ăn khắp ao nhưng chỉ nên tại vùng gần bờ ao hoặc tại một số địa điểm nhất định. Nên cho ăn vào buổi sáng và buổi tối do ban ngày tỷ lệ trao đổi chất và các hoạt động khác của tôm giảm.
Quản lý nước
Các chỉ số về chất lượng nước là yếu tố sống còn trong nuôi TCNN. Chất lượng nước thay đổi trên cơ sở mật độ thả giống, tỷ lệ cho ăn và việc thay nước. Thiếu ôxy là hiểm hoạ phổ biến nhất tại các trại nuôi tôm, do có nhiều chất hữu cơ, cho ăn quá nhiều, và hiện tượng tảo nở hoa. Có thể tăng lượng ôxy bằng cách sử dụng máy sục khí hoặc thay nước. Các chỉ số tối ưu của nước trong ao nuôi tôm như sau: pH : 7,5-8,5; nhiệt độ 29-31oC; độ cứng 100-150mg/l theo CaC03; độ kiềm > 50ppm; ammonia 0,1ppm; CaC03 > 40ppm; ôxy hoà tan 4ppm.
Tỷ lệ tăng trưởng của tôm giảm khi độ cứng của nước cao. Không nên bón phân chuồng và phân hữu cơ, dễ làm cho nước ao bị thiếu ôxy khi vi khuẩn phân huỷ chất hữu cơ dư thừa. Cần thay nước với tỷ lệ và vào thời điểm thích hợp để duy trì chất lượng nước.
Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh
Các tác nhân như vi khuẩn, virut, nấm, ký sinh trùng, chất độc và các yếu tố bất lợi khác có thể gây bệnh cho tôm và làm cho toàn bộ hệ thống nuôi tôm ngừng hoạt động. Do vậy, cần quan tâm đến việc chẩn đoán, kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh. Cần kiểm tra bệnh cho con giống trước khi thả. Cũng cần kiểm tra kỹ lưỡng những triệu chứng hoặc dấu hiệu bất kỳ nào khi xảy ra bệnh. Ðiều này giúp đảm bảo thả con giống có chất lượng, giảm nguy cơ dịch bệnh tại trại nuôi. Nói chung, môi trường bất lợi như lượng ôxy hoà tan thấp, nhiệt độ luôn biến động, pH hoặc độ cứng của nước cao có thể gây nhiều bệnh nguy hiểm và làm giảm năng suất. Ðể kiểm soát và làm giảm bộc phát dịch bệnh do vi khuẩn gây ra, người nuôi cần duy trì chỉ số chất lượng nước trong phạm vi cho phép, có cách cho ăn hợp lý, đảm bảo các yếu tố môi trường khác và thả giống với mật độ phù hợp.
Nhiều bệnh trong hệ thống nuôi TCNN do virut gây ra. Hiện chưa có thuốc hay vacxin nào điều trị hiệu quả những bệnh này, do virut không nhạy cảm với kháng sinh. Tuy nhiên, có thể giảm và tránh lây lan bệnh do virut gây ra bằng cách quản lý tốt nhằm duy trì chất lượng nước, quản lý thức ăn và chăm sóc sức khoẻ tôm một cách phù hợp.
Thu hoạch và xử lý tôm sau thu hoạch
Thu hoạch tôm là thời điểm quan trọng quyết định thành công trong nuôi TCNN. Cần kiểm tra vỏ tôm để giảm thu hoạch tôm bấy. Thời điểm thu hoạch tốt nhất là buổi sáng hoặc buổi tối do cường độ ánh sáng mặt trời lúc ban ngày có thể là tác nhân gây lột xác, dẫn đến tỷ lệ tôm bấy cao. Tốt hơn là chỉ nên thu hoạch tôm đạt cỡ thương phẩm, thả lại tôm nhỏ hơn để nuôi tiếp đến khi đạt cỡ thương phẩm. Bằng cách thu tỉa này, mật độ tôm giảm và do vậy, nâng cao tỷ lệ tăng trưởng của tôm còn lại trong ao.
Sau thu hoạch, rửa sạch tôm bằng nước sạch để loại bỏ chất bẩn và tạp chất khác. Trước khi bán hay chuyển tôm đến nhà máy chế biến, cần ướp lạnh tôm nhằm giảm sự phá huỷ của vi khuẩn, sự tự phân huỷ làm ươn hỏng. Nước đá dùng ướp lạnh tôm phải làm từ nước sạch. Tốt nhất nên ướp lạnh tôm bằng nước đá theo tỷ lệ khối lượng 1:1. Có thể sử dụng đá vảy để ướp lạnh tôm vì loại nước đá này mềm và không gây thương tổn tôm so với sử dụng đá cây đập nhỏ.
Với nguồn nước ngọt và nước lợ dồi dào, ấn Ðộ có tiềm năng to lớn phát triển nuôi TCNN. Hạn chế hiện nay là thiếu nguồn cung cấp giống có chất lượng, sử dụng phương thức nuôi quảng canh và người nuôi thiếu kiến thức về quản lý tốt. Nếu quản lý chất lượng nước và trại nuôi hợp lý, quan tâm nhiều hơn đến sức khoẻ tôm thì TCNN có thể trở thành nguồn thực phẩm và nguồn thu nhập chính cho người dân vùng nông thôn. Những hướng dẫn trên đây có thể sẽ giúp ích cho người nuôi nâng cao sản lượng và duy trì tính bền vững của trại nuôi TCNN.
ÐH, Theo Aquaculture Asia vol.VIII, No2, 2003 - Tap chi TS, 12/2003



THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT THỨC ĂN


Thức ăn cho tôm bảo đảm đủ dinh dưỡng và khoáng để tôm phát triển tốt, lột xác dể dàng. Có thể dùng thức ăn viên, cá vụn, con ruốc hay tép v.v...
Thức ăn phải bảo đảm các thành phần dinh dưỡng như sau:
Protein : 30-35 %
Lipid : 3-5%
Canxi : 2-3%
Phospho : 1-1,5%
Cellulose : 3-5%
Khẩu phần ăn tính theo % trọng lượng thân, hay từng khoảng thời gian một thay đổi hệ số 1 lần.
Trong ruộng lúa chỉ cần cho ăn bằng 1/2 lượng thức ăn trong ao, vì tôm có thể ăn thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa. Có thể dựa vào bảng 4 để tính vào lượng thức ăn hàng ngày.
Nếu dùng thức ăn tươi sống tăng lên 4-5 lần.
Cho ăn ngày 2 lần vào 6h và 18h. Thức ăn được rải đều khắp ao để tôm dễ bắt mồi. Trong các ao để các sàng chứa thức ăn, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, nếu thiếu phải bổ sung thêm, nếu thừa thì giảm xuống.
Thời gian nuôi (ngày)
Trọng lượng  cá thể trung  bình (g)
 Tỷ lệ sống (%) 
    
Thức ăn % trọng lượng thân 
Ao
Ruộng
1-20 
100 
10
21-40 
7  
95 
15  
7
41-60
13
90
10
5
61-80
22
85
8
4
81-100
31 
70  
2,5
101-120 
40 
71    
 4    
2,0
121-150   
50  
60 
 3 
1,5
TÔM GIỐNG VÀ THẢ TÔM GIỐNG
++ Con giống: 
Tôm giống từ 1-4 tuần tuổi, khoẻ mạnh, không bệnh tật. Có thể sử dụng tôm giống đánh bắt trong tự nhiên.
++ Mật độ thả:
- Đối với ao nuôi mật độ 4 - 6 con/m2
- Đối với ruộng lúa mật độ 6 con/m2 diện tích mương
- Nuôi đánh tỉa thả bù: 16-22 con/m2 từ tháng thứ 7 trở đi, cứ hàng tháng đanh tỉa bớt tôm đạt tiêu chuẩn thương phẩm (45g) và đến tháng thứ 10 thả bù, số lượng thả bù là 50% số tôm giống ban đầu, sau đó cứ 6 tháng thả bù 1 lần.
++ Cách vận chuyển giống
Hiện nay, bà con nông dân quen nuôi tôm có kích thước từ 3-4 cm trở lên, chưa quen nuôi giống nhỏ, cho nên việc vận chuyển giống lớn phải đảm bảo kỹ thuật mới cho tỷ lệ sống cao.
Khi vận chuyển giống ở ao ương đi xa vùng nuôi, phải thu hoạch trước 1-2 ngày, cho tôm vào hai bể, để tôm khỏe rồi mới vận chuyển.
Dùng bao ny lon (60 x 90 cm) có bao ngoài bảo vệ, 1/3 nước và 2/3 bơm oxy, đóng 1.000 - 1.200 con/ bao, loại 3-4cm (0,5-1 g/con), nhiệt độ nước trong bao: 24oC. Thời gian vận chuyển: 8



Vì sao tôm càng xanh không lột vỏ

Tôm và các loài giáp xác khác đều lột vỏ để tăng trưởng. Trường hợp tôm càng xanh không lột vỏ là do nguồn thức ăn cung cấp cho tôm không thoả đáng; nguồn nước ao nuôi bẩn, ô nhiễm, lượng oxy hoà tan trong nước không đủ cho nhu cầu hô hấp của tôm; tôm bị bệnh như bệnh đóng rong...
Cách khắc phục 
Để giúp tôm lột xác phải tạo điều kiện môi trường sống tốt và đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho tôm.
- Tập tính của tôm là ăn tạp thiên về động vật, do đó nên chủ động cung cấp thức ăn sống, nên cho tôm ăn con mồi vừa mới chết nhưng không quá ươn thối; các loại cá tạp nhỏ, tép, ruốc, ốc bươu vàng...tươi là những thức ăn thích hợp cho tôm.
- Thuốc diệt cá tạp khi dùng liều lượng, nồng độ thấp (3-5ppm hay 3-5 phần triệu) có thể kích thích tôm lột vỏ. Tuy nhiên việc dùng thuốc diệt cá tạp hay môt số hoá chất khác có thể kích thích tôm lột phải thận trọng và tính toán thật chính xác thể tích nguồn nước ao nuôi và lượng thuốc cần sử dụng.
- Trước khi quyết định dùng thuốc diệt cá tạp hay hoá chất khác để kích thích tôm lột, phải đánh giá được tình trạng sức khoẻ của tôm nuôi, tình hình khí hậu thời tiết, biên độ, nước thủy triều... Nếu không nắm vững các yếu tố này, vô tình sẽ làm xáo động điều kiện sống của tôm và rất có thể đầu độc tôm nuôi khiến tôm có thể chết hàng loạt.
- Tôm càng xanh là loài giáp xác nước ngọt nên đòi hỏi nguồn nước có hàm lượng oxy hoà tan trong nước cao. Để tăng lượng oxy hoà tan trong nước, cần tiến hành thay nhiều lượng nước trong ao nuôi qua hệ thống cống có ngăn lưới ở miệng cống, bố trí sục khí cho ao nuôi hay thiết kế hệ thống quạt nước cho ao.
Biện pháp sục khí hay quạt nước cho ao nuôi tôm thường được áp dụng rộng cho phương thức nuôi tôm bán thâm canh hoặc thâm canh.



Một số bệnh thường gặp trong sản suất tôm càng xanh giống

Tôm càng xanh (TCX) Macrobrachium là loài giáp xác sống và phát triển chủ yếu trong môi trường nước ngọt, có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích thước lớn
Trong sản xuất giống, tôm càng xanh thường mắc một số bệnh sau:
- Bệnh gây chết giữa chu kỳ nuôi
Bệnh này thường gặp khi đã nuôi ấu trùng từ 10 - 20 ngày, khi bị bệnh ấu trùng thường chết rất nhiều, sau 2-3 ngày có thể chết hết.
Dấu hiệu: ấu trùng tômyếu, bơi lội chậm chạp hơn bình thường, màu sắc xám nhạt (sau 10 ngày nuôi màu sắc của ấu trùng thường nâu sáng), ăn artemia ít, artemia thừa trong bể (tôm khoẻ mạnh sau 10 ngày nuôi khi cho artemia vào sau 2 giờ ấu trùng ăn hết).
Soi bằng kính hiển vi gan tụy co lại, nhỏ hơn bình thường, các sắc tố bị mất.
Quan sát bể vào ban đêm thấy có tôm chết phát sáng, xem qua kính hiển vi thấy có coccobacilli nhiều trong ruột tôm.
Điều trị: Sử dụng thuốc kháng sinh không có hiệu quả, khi giống bị bệnh này thường phải xả bỏ, vệ sinh bể làm đợt mới, bệnh này ít gặp.
Phòng ngừa: Vệ sinh kỹ toàn bộ trại sau một chu kỳ sản xuất, phơi khô trại sau 10 ngày, khi nuôi quản lý chăm sóc tốt, hạn chế mắc bệnh.
- Bệnh lột xác dính vỏ:
Bệnh này thường xảy ra khi ấu trùng ở giai đoạn 10-11,khi ấu trùng lột xác vỏ bị dính lại ở chủy (dạng nhẹ), dính ở chân ngực, không bơi được và chết, xảy ra chủ yếu vào ban đêm khi tôm lột xác. Tỷ lệ lột xác bị dính thường từ 10 –30%.
Nguyên nhân: không xác định được rõ ràng, có thể do hàm lượng khí độc trong bể nuôi cao.
Phòng trị bằng cách, cho formalin 10 – 15 ppm kích thích tôm dễ lột xác, cho thêm lecithin vào trong thức ăn, giúp hạn chế mắc bệnh.
- Bệnh do nguyên sinh động vật Zoothamnium, Epistylis, Acineta, Vocticella…Trong đó Zoothamnium hay gặp nhất. Chúng ký sinh ở các phần phụ như chủy, chân ngực, chân bụng, đuôi khi chúng phát triển nhiều ấu trùng không lột xác được dẫn tới chết.
Nguyên nhân: Do xử lý tôm mẹ không tốt, mang mầm bệnh vào bể, hoặc chăm sóc kém, thức ăn dư thừa nhiều, hàm lượng hũu cơ trong bể cao cũng sinh ra bệnh này.
Phòng trị: Chăm sóc cho ăn tốt, tạo điều kiện cho ấu trùng lột xác nhanh, hàng ngày si phông sạch đáy bể, thay nước đúng định kỳ giữ môi trường nuôi tốt ít gặp bệnh này. Khi kiểm tra thấy xuất hiện bệnh, sử dụng Formalin với nồng độ 50 – 75ppm, sau 24 giờ khỏi bệnh.
- Bệnh hoại tử
Quan sát trong bể nuôi thấy ấu trùng bơi không bình thường, hoặc chìm nhiều ở đáy bể, quan sát trên kính hiển vi thấy các phần phụ cuả ấu trùng bị ăn mòn, hoặc cụt như chủy, chân bụng, chân ngực, chỗ bị ăn mòn có màu vàng cam. Khi bị bệnh nặng, không trị kịp thời ấu trùng chết nhiều.
Nguyên nhân: chủ yếu do môi trường nuôi bị thay đổi đột ngột, trong đó yếu tố nhiệt độ là chủ yếu. Khi nhiệt độ nước nuôi trên 29 C thường bị bệnh này.
Phòng trị bệnh: Khống chế nhiệt độ nước nuôi ổn định từ 27 -280C, lúc thay nước chú ý các yếu S‰, pH, t0 …phải đồng nhất, sẽ ít gặp bệnh này. Khi phát hiện bệnh phải trị kịp thời có thể sử dụng một số kháng sinh.
- Bệnh đục cơ
Bệnh này thường xảy ra trong giai đoạn tôm bột (PL), quan sát trong bể nuôi thấy xuất hiện một số con có màu trắng đục trên thân, điểm trắng đục xuất phát từ đuôi và lan dần ra, tôm bị bệnh bơi lội khó khăn, những con bị nặng sẽ chết. Bệnh xảy ra mang tính tự phát do các hiện tượng sốc của môi trường: nhiệt độ, độ mặn và oxy, kết hợp với mật độ nuôi cao, kỹ thuật nuôi không phù hợp.
Tỷ lệ mắc bệnh: 10 – 30%, sử dụng thuốc kháng sinh thường không hiệu quả, chủ yếu là phòng ngừa, giảm tối đa các hiện tượng gây sốc ngay sau khi phát hiện bệnh, bệnh sẽ không tăng và khỏi.
- Bệnh đen mang
Bệnh này thường xuất hiện vào giai đoạn 5 - 8 trong chu kỳ phát triển của ấu trùng, khi ấu trùng bị nhiệm bệnh, hàng ngày khi xi phông bể có thể thấy chết nhiều, trên mặt bể xuất hiện xác tôm chết nổi lên. Xem trên kính hiển vi thấy nhiều chấm đen trên các tấm mang, bị nặng tôm chế nhiều, cần phát hiện sớm thông qua xem ấu trùng trên kính hiển vi, trị kịp thời sẽ khỏi bệnh. Tác nhân gây bệnh nhiều tác giả cho rằng, do trong thức ăn thiếu hụt vitamin C, cần tăng cường vitamin C cho vào trong thức ăn chế biến.
Trị bệnh: Sử dụng kháng sinh kết hợp với việc tăng thêm vitamin C trong thức ăn.
- Bệnh dính chân
Bệnh này thường gặp trong sản xuất giống tôm càng cũng như tôm sú. Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn dạng sợi (Filamentous bacteria) và vi khuẩn không phải dạng sợi, một số loài tảo, nguyên sinh động vật. Khi quan sát ấu trùng tôm trên kính hiển vi thường thấy xuất hiện đầy đủ các loại này, nhưng vi khuẩn dạng sợi là chủ yếu. Chúng bám vào các sợi lông tơ, số lượng nhiều tôm bơi lội khó khăn và các lông tơ rụng dần, sau đó tổn thương các phần phụ như chân bụng, đuôi, chủy… bị nhiễm nặng tôm chết đồng loạt, nhất là các giai đoạn nhỏ.
Trị bệnh này phải dựa vào sự quan sát trên kính hiển vi, xác định loài nào gây bệnh chủ yếu trị trước sau mới trị bệnh tiếp theo.
Ví dụ: Gây bệnh do vi khuẩn dạng sợi là chủ yếu và có cả nguyên simh động vật (Zoothamnium).Trị bệnh do vi khuẩn dạng sợi trước, sử dụng CuSO4 với nồng độ 0,3ppm sau 24 giờ là khỏi bệnh; ngày sau đó thay nước 80%, sau 2 ngày trị tiếp bệnh do nguyên sinh động vật gây ra.


Cách phân biệt tôm càng xanh đực, cái

Khi tôm chưa thành thục hoàn toàn: tôm đực có lỗ sinh dục ở gốc đôi chân bò thứ 5, tôm cái có lỗ sinh dục ở giữa đôi chân bò thứ 3, ngay sau đôi càng.
Bằng mắt thường ta có thể thấy trên đôi chân thứ 2 của tôm đực có 2 nhánh, còn ở tôm cái vị trí này chỉ có 1 nhánh.
Ở tôm đực, trên chân bơi thứ 2 ngoài phụ bộ phía ngoài, phụ bộ phía trong và cọng tơ, còn có 2 nhánh bộ phụ đực còn gọi là trâm giao hợp (không phải ống dẫn tinh) có thể thấy bằng mắt thường. Ở tôm cái vị trí này chỉ có một nhánh.
Khi chiều dài bình quân đạt 8-14cm, trọng lượng cơ thể từ 10-12g, tôm càng xanh có sự phát triển tương đương giữa con đực và con cái. Nhưng khi chiều dài vượt quá 14cm thì con đực thường phát triển nhanh hơn con cái.
Tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái, to hơn tôm cái. Cùng điều kiện chăm sóc, sau 7 tháng con đực có thể đạt tới 110g/con trong khi con cái chỉ đạt 50g.
Khi tôm trưởng thành: Tôm càng xanh có trọng lượng khá lớn, con đực có thể nặng tới 450g/con, thân trương đối tròn, màu xanh dương đậm, chùy phát triển nhọn; nửa chùy ngoài cong lên, trên mắt chùy có 11-15 răng, 3-4 răng sau hốc mắt, mắt dưới thường 12-15 răng. Chiều dài của chùy tôm cái thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực trong khi đó chùy tôm đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực.
Trong những con tôm cùng cỡ thì con đực có đầu và càng to hơn các bộ phận tương tự ở con cái. Tôm đực trưởng thành có 3 kiểu: Kiểu đực nhỏ, kiểu có càng màu cam và kiểu có màu càng xanh dương. Tôm đực nhỏ có thể phát triển thành tôm đực màu càng cam. Tôm càng màu xanh phát triển trội hơn tôm càng màu xanh dương. Mỗi kiểu trong số 3 kiểu trên đều có tập tính sinh sản và đặc điểm sinh dục thứ cấp nổi bật. Trong 3 kiểu này, tôm càng màu cam sinh trưởng nhanh nhất.
Năng suất của ao nuôi tôm càng xanh toàn đực thường cao hơn ao nuôi toàn tôm cái. Khi nuôi toàn đực, tôm càng xanh có sự phân hóa về kích thước rất rõ: Một số có kích thước to kỷ lục, một số lại còi cọc, tỷ lệ sống không cao vì tôm đực rất hiếu chiến, hay đánh nhau và những con tôm đang lột xác có thể bị ăn thịt. Tôm cái có kích thước đều hơn, tỷ lệ sống cao hơn



Nuôi giữ tôm càng xanh qua đông

Nhiệt độ thích hợp cho tôm càng xanh sinh trưởng và phát triển 22 – 23 C, thích hợp nhất là 28 – 31 C. Giới hạn nhiệt độ là 14 – 40 C, mùa vụ nuôi tôm càng xanh ở miền Bắc thích hợp nhất là từ tháng 4 đến tháng 11 (dương lịch). Mùa đông ở miền Bắc nước ta thường kéo dài 4 – 5 tháng, nhiệt độ xuống thấp không những ảnh hưởng lớn đến những loài cá chịu lạnh kém (cá rô phi, cá chim trắng) mà còn ảnh hưởng nhiều đến sự tồn tại và sinh trưởng, phát triển của tôm càng xanh. Những năm gần đây, nhiệt độ không khí xuống thấp dưới 100C đã gây thiệt hại lớn đến nguồn tôm bố mẹ cũng như sản lượng tôm thương phẩm, làm ảnh hưởng đến kế hoạch SX năm sau.
Để nuôi giữ tôm càng xanh qua đông, một số cơ sở SX ở miền Bắc đã đầu tư nhiều cho công trình trú đông phục vụ cho tôm càng xanh.
1. Nuôi tôm càng xanh qua đông trong ao
Dùng ao sâu từ 2 –3m nước, nơi khuất gió, trên mặt ao thả bèo với diện tích chiếm 1/2 – 1/3 mặt nước ao hoặc trong ao thả nhiều gốc cây, các bó chà cho tôm trú ẩn. Có một số nơi đã dùng thùng phi chứa bếp than tổ ong thả xuống nước để nhiệt độ tỏa ra từ bếp làm nóng nước, tạo nhiệt độ thích hợp cho tôm. Trong quá trình nuôi tôm qua đông cần dùng thức ăn công nghiệp, cho tôm ăn vào ngày nắng ấm, khẩu phần ăn thức ăn chiếm 1 – 2% khối lượng tôm nuôi. Nuôi theo cách này tôm có thể đạt tỷ lệ sống 50% – 60%.
2. Nuôi tôm qua đông trong lồng
Thả lồng nuôi tôm ở những hồ chứa sâu 2 –3m nước, mật độ tôm nuôi từ 100 – 200 con/m3 lồng ngập nước. Cho tôm ăn thức ăn công nghiệp hàm lượng đạt 30%, khẩu phần thức ăn chiếm 2 – 3%, khối lượng tôm nuôi. Nuôi theo cách này tốc độ sinh trưởng của tôm tuy chậm nhưng tỷ lệ sống cao, đạt 70 – 80%.
3. Nuôi tôm ở vùng nước khoáng ấm
Một số nơi như huyện Kim Bôi (Hòa Bình), Tiên Lãng (Hải Phòng), Tiền Hải (Thái Bình), Bắc Quang (Hà Giang), Sơn La, Bắc Cạn... có thể dùng nước khoáng ấm để nuôi tôm qua đông. Nuôi trong ao hoặc bể, song nguồn nước phải đảm bảo sạch, không ô nhiễm, các yếu tố môi trường phải đảm bảo pH=6–8, ôxy hòa tan>3mg/l, độ cứng 20mg/l, sắt 0,2mg/l. Nuôi theo cách này tỷ lệ tôm sống đạt 90 – 95%.
4. Nuôi tôm qua đông trong nhà ấm
Có thể xây các bể nuôi tôm trong nhà kín gió, có mái che, có đủ ánh sáng và có lò hơi đun bằng than hoặc đặt máy nâng nhiệt độ để điều chỉnh nhiệt độ. Tuy nhiên, nuôi theo cách này phải theo dõi thường xuyên nhiệt độ và độ chi phí cao.
Nuôi tôm càng xanh qua đông dù bằng cách nào, song cũng phải đặt máy quạt nước hoặc máy sục khí trong ao hoặc bể đẻ cung cấp ôxy cho tôm. Những năm gần đây, việc sinh sản nhân tạo tôm càng xanh đã phát triển nuôi rộng ở các tỉnh phía Bắc, do đó cần quan tâm nuôi giữ tôm qua đông để chủ động được nguồn tôm giống cung cấp cho người nuôi.



Nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa

Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa Trồng Trọt và Thủy sản. Phương thức nuôi này không những làm giảm việc tranh diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất, nuôi tôm trong ruộng lúa chẳng những không giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm
a. Công trình
Ruộng nuôi cần có bờ chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dể dàng cấp và tiêu nước. Thời gian ngập nước trên ruộng (10- 30 cm) càng dài càng tốt để tôm có thời gian lên ruộng sinh trưởng nhưng cũng tùy theo giai đoạn phát triển của cây lúa mà mức nước giữ sẽ khác nhau.
Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích từ 0.1- 1 ha, thông thường 0.2-0.5 ha Mỗi ruộng có ít nhất là một cống sao cho thay được càng nhiều nước vào lúc nước rong thì càng tốt. Bên cạnh đó có thể dùng cống để thu thêm tôm giống từ bên ngoài vào.
Hệ thống mương bao rất quan trọng đây sẽ là nơi trú của tôm lúc nhiệt độ cao hay phun thuốc trừ sâu, mương bao có kích thước cỡ 2- 3 m (sâu 1-2 m) dốc về phía cống, ngoài ra cũng nên đào thêm các mương phụ theo dạng bàn cờ rộng 1-1.5 m (sâu 0.8- 1 m) tổng diện tích mương so với diện tích ruộng nên từ 15- 25 % là phù hợp.
b. Kỹ thuật nuôi
Cải tạo ruộng nuôi: việc chuẩn bị ruộng để cấy vẫn tiến hành bình thường nhưng mương cần phải sên vét sau 2-3 vụ nuôi. Tiến hành tát cạn ao/mương, bón vôi, phơi đáy ao/mương như chuẩn bị cho ao nuôi. Đối với lúa có thể sạ hay cấy nhưng cấy thì tốt hơn vì tôm có thể di chuyển dễ dàng.
Mùa vụ: trong năm có 2 vụ lúa chính là Đông- Xuân (tháng 11- 12 đến tháng 2- 3dl) và Hè- Thu (tháng 4-5 đến tháng 7-8 dl) tùy vùng mà tôm nuôi có thể ghép với các vụ lúa khác nhau.
Vụ Hè - Thu do có thời gian ngập ruộng dài nên tôm nuôi có thể tận dụng thời gian ngập ruộng sau khi thu hoạch lúa. Vụ này kéo dài từ tháng 4- 5 dl đến tháng 10- 11 dl (7 tháng )
Vụ Đông -Xuân do có thời gian khô đồng nên nuôi ghép tôm có khó khăn hơn vì thời gian nuôi ngắn, tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm. Tuy vậy một số vùng có cao trình mặt bằng thấp, chủ động được nước thì có thể nuôi ghép được nhưng thời gian nuôi thường giáp năm (11 tháng) đến vụ Đông -Xuân tiếp theo mới thu hoạch toàn bộ. Tôm giống thả trong mương bao để ương và chuẩn bị cấy lúa, khi cấy xong dâng mực nước lên cho tôm lên ruộng
Mật độ thả: ở ruộng nuôi do diện tích mương giới hạn nên mật độ thả thấp 3-4 con/ m2 (tôm giống 3-5 g/con) hay 0.5- 2 con/ m2 tùy theo kh năng bổ sung giống và thức ăn. Hiện nay, việc th tôm trong ruộng cùng với cá khá phổ biến, thường mật độ thấp từ 1- 2 tôm /m2.
Thức ăn, phương pháp cho ăn: kiểm tra tôm sử dụng thức ăn và trọng lượng tôm hàng tháng để điều chỉnh khẩu phần ăn, tiến hành như nuôi tôm trong ao. Khẩu phần cho ăn chỉ cần 3% trọng lượng cơ thể sau một tháng đối với tôm giống tự nhiên và sau 4 tháng đối với tôm bột vì trong ruộng có nhiều thức ăn tự nhiên, mật độ thả thấp. Thức ăn nên rãi nhiều điểm xung quanh mương hay trong sàng ăn đặt trong ao.
Chăm sóc quản lý: nuôi tôm trong ruộng lúa cần phải chăm sóc, quản lý thật chặt chẽ vì nó liên quan đến việc canh tác lúa.
Trao đổi nước thường xuyên, càng nhiều càng tốt nhưng cũng chú ý việc kích thích tôm lột xác như nuôi trong ao. Vào ban đêm do các loại thực vật và rể lúa sử dụng oxy nên rất dể xảy ra tình trạng thiếu oxy vào buổi sáng, nếu có hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng thì cần tiến hành trao đổi nước ngay.
Phòng chống và theo dõi thường xuyên địch hại của tôm vì nuôi tôm trong ruộng lúa địch hại có thể ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ sống và năng suất của tôm.
Việc phun thuốc trừ sâu cho lúa phải cẩn thận, thông thường rút hết nước trên ruộng lúa cho tôm xuống mương và tiến hành phun thuốc nhằm tránh thuốc rơi xuống mương, sau 2-3 ngày dâng nước lên để tôm trở lại ruộng ăn bình thường.
Mặt khác, cũng cần chú ý sử dụng các loại thuốc ít độc đối với tôm như DDVP, Basa, Azorin, Monitor và chọn các giống lúa kháng sâu rầy để hạn chế việc phun thuốc.
Thu hoạch: mặc dù thức ăn tự nhiên trong ruộng phong phú nhưng mật độ nuôi thấp nên tôm tăng trưởng nhanh ngược lại địch hại nhiều nên năng suất thường thấp 100- 300 kg/ ha/vụ đối với vụ Hè - Thu và riêng đối với vụ Đông - Xuân thì thu tỉa thả bù.
THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT THỨC ĂN
Thức ăn cho tôm  bảo đảm đủ dinh dưỡng và khoáng để tôm phát triển tốt, lột xác dể dàng. Có thể dùng thức ăn viên, cá vụn, con ruốc hay tép v.v...
Thức ăn phải bảo đảm các thành phần dinh dưỡng như sau:
Protein : 30-35 %
Lipid : 3-5%
Canxi : 2-3%
Phospho : 1-1,5%
Cellulose : 3-5%
Khẩu phần ăn tính theo % trọng lượng thân, hay từng khoảng thời gian một thay đổi hệ số 1 lần.
Trong ruộng lúa chỉ cần cho ăn bằng 1/2 lượng thức ăn trong ao, vì tôm có thể ăn thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa. Có thể dựa vào bảng 4 để tính vào lượng thức ăn hàng ngày.
Nếu dùng thức ăn tươi sống tăng lên 4-5 lần.
Cho ăn ngày 2 lần vào 6h và 18h. Thức ăn được rải đều khắp ao để tôm dễ bắt mồi. Trong các ao để các sàng chứa thức ăn, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, nếu thiếu phải bổ sung thêm, nếu thừa thì giảm xuống.

Thời gian nuôi (ngày) Trọng lượng  cá thể trung  bình (g)  Tỷ lệ sống (%) 
    
Thức ăn % trọng lượng thân 
Ao       Ruộng
1-20  100   20     10
21-40  7   95  15   7
41-60     13 90   10    5
61-80 22  85 8    4
81-100 31  70   2,5
101-120  40  71      4     2,0
121-150    50   60   3  1,5

(Tài liệu đào tạo từ xa - Viện Thuỷ sản - Đại học Cần Thơ)


Nuôi tôm càng xanh trong ao

Nuôi tôm càng xanh trong ao

Chọn lựa địa điểm
a. Địa điểm sử dụng ao nuôi.
Ao nuôi tôm càng xanh thường được xây dựng ở vùng gần kinh rạch nơi có thể trao đổi nước dễ dàng có thể bằng thủy triều hay máy bơm. Nói chung nguồn nước cần ổn định về c số lượng và chất lượng như 7-8, nhiệt độ 26-32oC và Oxy hòa tan > 3mg/L. Đặc biệt là không bị nhiễm bẩn bởi chất thi công nghiệp hay hóa chất trong nông nghiệp. Những khu vực nguồn nước bị nhiễm mặn nhẹ (thấp hơn 10%o) vẫn có thể nuôi tôm càng xanh. Hầu hết các khu vực nước ngọt ở Nam Bộ (trừ các vùng bị nhiễm phèn) kể c ruộng lúa đều có thể nuôi tôm càng xanh tốt.
b. Tính chất đất
Một trong những tính chất quan trọng nhất của đất đối với ao nuôi là tính giữ nước và không sinh phèn. Đất sét, thịt pha sét đều đảm bảo được chức năng giữ nước. Tuy nhiên cũng cần kho sát đặc tính của đất về thành phần cơ học, độ phèn (độ sâu tầng sinh phèn...) từ đó xác định phương án xây dựng ao.
c. Nguồn giống
Có hai nguồn giống tôm càng xanh chính ở khu vực Nam Bộ là giống tự nhiên và giống nhân tạo. Hiện nay, nguồn giống tự nhiên vẫn còn chiếm vai trò quan trọng trong các mô hình nuôi tôm càng xanh nhất là ở khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên, hai loại giống này có các ưu và nhược điểm riêng.
Khi thả nuôi, tôm giống tự nhiên cần phân nhóm theo kích cở (3-5g, 6-8g và 9-12g). Mục đích phân cở là giảm hiện tượng ăn nhau và tranh giành thức ăn trong quá trình nuôi.
CÁC HÌNH THỨC NUÔI TÔM CÀNG XANH
Hiện nay tôm càng xanh có thể nuôi theo các mô hình khác nhau như nuôi trong ao (nuôi đơn hay nuôi kết hợp với cá) và nuôi trong ruộng lúa.
NUÔI TÔM TRONG AO
Công trình ao nuôi
Hình dạng và kích cở ao nuôi: Ao thường có hình chữ nhật, kích thước thích hợp và phổ biến là 0.2-0.6 ha. Mức nước thích hợp từ 0.7-0.9m. Bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ, không hang hốc làm nơi trú ẩn cho các sinh vật hại tôm. Mặt bờ rộng ít nhất là 2m nhằm giúp cho việc đi lại chăm sóc tôm thuận lợi. Độ nghiêng đáy ao từ 3-5%.
Cống: Mỗi ao nuôi cần ít nhất là một cống (cống gỗ hay cống xi măng dạng lỗ hay dạng ván phay). Nếu hai cống thì đặt mộýt cống cấp, một cống tiêu về 2 phía của ao nuôi. Kích thước cống tùy thuộc vào kích thước ao nuôi cũng như kh năng trao đổi nước cho ao vào mỗi cao nước cường (cống phải trao đổi từ 20-30% lượng nước ao nuôi vào mỗi lần nước cường).
Những ao diện tích nhỏ hơn 500 m2 có thể đặt 1-3 cống lổ xi măng hay cống bọng dừa với đường kính 20-30 cm.
Bơm: máy nhỏ di động cũng rất cần thiết cho ao nuôi tôm, máy bơm giúp trao đổi nước ao theo định kỳ hay vào những lúc nước ao bị dơ bẩn.
Chuẩn bị ao đầm
Trong nuôi tôm, công việc chuẩn bị ao nuôi đóng vai trò rất quan trọng, để có một ao nuôi tôm chuẩn bị tốt nên thực hiện các bước sau:
Vệ sinh ao: sau mỗi vụ nuôi, ao nhất thiết phải sên vét lớp bùn đáy nếu có thể nên loại bỏ hết lớp bùn lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc.
Phơi đáy ao: ao cần phơi khô đáy 2-7 ngày, công việc này giúp oxy hóa các vật chất hữu cơ còn lại ở đáy đồng thời gii phóng các khí độc như H2S, NH3, CH4... trong đất đáy ao. Tuy nhiên các ao đáy bị phèn không được phơi đáy ao quá khô và cày bừa thì sẽ là tầng sinh phèn (pyrite) bị oxy hóa và gây nước ao bị phèn. Lớp đất bị phèn nên loại bỏ khỏi bờ ao hay có kế hoạch xử lý nếu không chúng cũng bị oxy hóa và tạo phèn chy xuống ao khi trời mưa.
Kiểm tra pH đất đáy ao: việc này giúp xác định đúng lượng vôi sử dụng nhằm nâng pH nước lên cao nếu cần. Phương pháp đo pH đất đáy ao đơn giản là lấy một ít đất đáy ao đem pha trộn với nước ở tỷ lệ 1:1 rồi dùng máy đo trực tiếp hay dùng giấy quì tím (khi dùng giấy quì thì nhỏ cẩn thận 1-2 giọt vào một mặt giấy và xem mặt kia). Cách tính toán lượng vôi theo bảng sau
Bảng 3.2: Lượng vôi bón cho ao có pH đất khác nhau.
pH đất Lượng vôi bột sử dụng (kg/m2)
7
6.5
6
5.5
5
4.5
4
10
13
17
22
25
30
34

Bón vôi cho ao: phân bón giúp phát triển thức ăn tự nhiên, phân sử dụng thường là phân heo, gà với lượng từ 25-30kg/100m2. Bón phân 1-2 ngày thì tiến hành lấy nước vào ao ở mức 30-40cm và giữ 1-2 ngày để tảo phát triển, trước khi tăng mức nước lên 60cm.
Trong trường hợp có cá tạp xuất hiện trong ao thì phải diệt trước khi đưa đủ nước để thả giống. Bột trà (chứa saponine 10-13%) dùng 20 mg/l, hay dây thuốc cá (chứa retenone) dùng 4g/m3. Tuy nhiên, tính độc của saponine và retenone xảy ra mạnh ở nhiệt độ cao vì vậy nên chọn thời điểm phù hợp để diệt. Một ngày sau khi sử dụng hóa chất thì tiếp tục lấy nước vào (qua lưới mịn) đến khi mức nước đạt 0,7-0,9m thì kiểm tra màu nước, nếu màu nước đạt 30-40cm thì có thể tiến hành thả tôm nuôi.
Thả giống nuôi
Tùy theo kích cỡ giống và cách thức nuôi (nuôi đơn hay nuôi kết hợp) và mức độ thâm canh mà mật độ thả có khác nhau.
Trong nuôi đơn: tôm càng xanh giống tự nhiên (3-5g/con) có thể th ở mật độ 4-6 con/m2, còn với tôm giống nhân tạo cỡ (0,5g/con) thì thả 10-15 con/m2.
Trong trường hợp nuôi kết hợp với cá (như chép, rôphi, mè trắng, mè vinh...) thì mật độ thả từ 2-3 con/m2 đối giống tự nhiên, và 8-10 con/m2 đối với giống nhân tạo. Mật độ thả cá dao động từ 2-3con/m2 tính chung cho các loài cá.
Hiện nay, trong nuôi tôm càng xanh việc thả giống đơn tính (toàn đực) cũng đang được chú ý bởi lẽ tôm đực lớn nhanh và cho sản lượng cao. Tuy nhiên, việc tách đàn tôm đực và cái đối với tôm kích cỡ nhỏ thường không dễ dàng thực hiện. Có các cách thường áp dụng như sau:
Tôm giống cỡ 2g có thể dựa vào lỗ sinh dục ở gốc chân ngực năm để phân biệt.
Tôm giống từ 1g trở lên có thể dựa vào nhánh phụ sinh dục ở chân bụng thứ nhất.
Tôm giống từ 2g trở lên có thể dựa vào gờ cao ở đốt bụng thứ nhất.
Các cách nêu trên thường có nhược điểm là khó thực hiện với một số lượng tôm lớn, dễ làm tôm giống bị xây xát gây hao hụt nhiều. Ngoài ra, có thể thả nuôi chung đực và cái và sau sau 3-4 tháng nuôi tôm cái sẽ mang trứng, trong trường hợp naữy thu tôm cái bán và giữ lại tôm đực nuôi tiếp.
Quản lý ao nuôi
Thức ăn và cho ăn: có thể sử dụng 2 dạng thức ăn đó là thức ăn viên và thức ăn tươi sống. Mặc dù, hiện nay thức ăn tươi được dùng chủ yếu nhưng thức ăn viên hay thức ăn tự chế bổ sung cho tôm càng xanh cũng rất quan trọng nhằm bổ sung các vật chất cần thiết cho tôm. Nói chung, do việc nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh nghĩa là thức ăn tự nhiên vẫn còn vai trò quan trọng nên cần dùng thức ăn có hàm lượng đạm từ 25-30%.
Bảng 1: Thức ăn cho tôm theo giai đoạn tăng trưởng.

Tháng tuổi
Lượng thức ăn (% trọng lượng thân)
1
2
3
4
5 trở đi
30
15
10
8
5

Khi cho tôm ăn cũng cần dựa vào một số yếu tố khác bên cạnh việc ước lượng theo đàn tôm trong ao để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp như (i) căn cứ vào chất lượng môi trường ao nuôi, ao dơ hay những ngày mưa lớn nên gim lượng thức ăn; (ii) kết hợp sàng ăn và rãi thành nhiều điểm trong ao để có thể đánh giá đúng thức ăn tôm sử dụng; (iii) cho tôm ăn hơi thiếu vẫn tốt hơn là thừa.
Tôm ăn thức ăn là do mùi (cơ quan xúc giác râu a1 và a2) chứ không phải thấy. ở giai đoạn nhỏ (1 tháng đầu sau khi th) tôm bắt được thức ăn qua bơi lội và hầu hết là thức ăn tư nhiên (Plankton). Giai đoạn này cơ quan xúc giác phát triển chưa đầy đủ nên chúng chưa thể tìm mồi tốt, thức ăn cần rãi khắp ao, cũng có thể trộn thức ăn chế biến và tươi sống để gây mùi. Các giai đoạn tiếp theo cơ quan thính giác của tôm phát triển hòan chỉnh và tự đi tìm thức ăn được nên có thể cho tôm ăn ở những điểm nhất định trong ao.
Theo dõi tăng trưởng và tình trạng sức khoẻ tôm: do đặc tính của tôm lớn lên là là nhờ lột xác và chu kỳ lột xác tuỳ thuộc vào kích cỡ và điều kiện môi trường sống. Kể từ 1,5 tháng tuổi trở đi, hàng tuần phải theo dõi sư sinh trưởng (tính đồng đều) của tôm bằng sàng ăn, chài và kết hợp với chu kỳ lột xác để có thể kích thích tôm lột xác đồng loạt và thay đổi thức ăn và khẩu phần ăn phù hợp.
Quản lý chất lượng môi trường ao nuôi
Hàm lượng oxy hòa tan: trong ao nuôi tôm hay trong ao nuôi thủy sản nói chung thì lượng oxy hòa tan trong nước có được do quá trình quang hợp của tảo, xâm nhập từ không khí vào và trao đổi nước ao. Tuy nhiên, lượng oxy trong ao thường không ổn và dao động lớn giữa ngày và đêm. Trong ao oxy mất đi là do sự hô hấp của tôm cá, to vào ban đêm và quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ. Oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 3,5mg/l.
Duy trì tốt lượng oxy trong ao có thể là nhờ quá trình trao đổi nước thường xuyên, mặt ao thoáng giúp cho quá trình khuếch tán oxy từ môi trường không khí vào dễ dàng nhờ sóng gió và cần lưu ý điều chỉnh lượng phiêu sinh vật trong ao để tránh không cân bằng oxy giữa ngày và đêm (theo màu nước).
Quản lý pH nước ao: trong ao nuôi pH luôn luôn có sự biến động theo sự nở hoa của to (pH tăng cao khi to quang hợp mạnh) và sự phân hủy các hợp chất hữu cơ ở đáy ao (pH thấp tầng đáy), do mưa rửa phèn từ bờ ao xuống hay nguồn nước bị nhiễm phèn (pH thấp). Tất c sự biến động tăng gim pH của nước ao nuôi (> 9 hay < 7) luôn có sự nh hưởng đến đời sống của tôm. Phương án xử lý là thay nước hay sử dụng vôi điều chỉnh sự thay đổi pH nước trong ao. Dùng vôi với lượng 8-10kg/10m2, xử lý phần xung quanh ao trước những cơn mưa lớn nhằm tránh sự rửa trôi phèn từ bờ vào ao. Đo pH nước sau khi mưa. Nếu pH nước xuống nhỏ hơn 7 thì dùng vôi với lượng 1-1,5kg/100m2 pha với nước tạt khắp ao để nâng pH nước.
Quản lý độ đục và độ trong của nước ao: sau những cơn mưa; nguồn nước lấy vào ao chứa nhiều hạt phù sa làm nước vẫn đục hay sự phát triển quá mức của tảo có thể gây trở ngại đối với tôm nuôi. Có thể làm cho nước trong ao trở nên trong lại bằng cách dùng vôi pha nước và tạt khắp ao để lắng tụ các hạt mùn bã (1kg/100m2).
Độ trong của ao thấp thì cần phải thay nước và giữ trong phạm vi 25-40 cm, nếu độ trong thấp, màu nước vẫn đục thì thay 20- 30% và điều chỉnh lại lượng thức ăn sử dụỹng. Ao có màu nước sẫm và trong thì phải thay nhiều nước, và phải bón vôi 5-10 kg/ 1.000m3, trường hợp độ trong vượt quá 40 cm thì phải bón thêm phân hữu cơ, hoặc vô cơ để tăng màu nước (10- 15 kg/ 100m2 phân heo, gà).
Quản lý các khí độc: quá trình phân hủy các chất thải của tôm, thức ăn thừa, chất hữu cơ từ ngoài vào, tảo chết...sẽ tạo nhiều chất dinh dưỡng cho ao và cũng tạo nhiều khí độc khác có tác hại đối với tôm mà chủ yếu là khí ở tầng đáy như H2S, NH3, NO2-.
H2S trong nước tồn tại dưới dạng H2S, HS- và S2-, trong nhóm này H2S là khí độc nhất và hàm lượng sẽ nhiều khi pH, Oxy hòa tan thấp, nhiệt độ cao.
NH3 (ammonia) tồn tại trong nước ao dưới dạng ion (NH3) và dạng kết hợp NH3, NH3 độc đối với tôm nuôi và nhất là trong điều kiện pH cao.
CO2 là khí độc đối với tôm nuôi khi hàm lượng cao, nhất là vào ban đêm, khi quá trình hô hấp xảy ra.
Quản lý các yếu tố này qua trao đổi nước tích cực sẽ giúp loại bỏ các chất khí độc này ra khỏi ao nhất là tầng nước dưới đáy ao. Ngoài ra, tảo chết cũng sinh ra một lượng khí độc đáng kể. Công việc điều chỉnh mật độ tảo (qua màu nước) không chỉ giúp hấp thu các khí độc mà còn hạn chế phát sinh khí độc.
Thu hoạch
Trong nuôi TCX, công tác thu hoạch thường được tiến hành một lần vào cuối vụ hay thu tỉa. Công tác thu tỉa rất quan trọng là có thể thu tôm lớn 3 lần trong vụ nuôi. Thu tỉa có thể tiến hành sau 4 tháng nuôi và mỗi 6 tuần thu 1 lần. Thu tỉa thường bằng chày hay kéo lưới...

(Tài liệu đào tạo từ xa - Viện Thuỷ sản - Đại học Cần Thơ)