• Cá cảnh

    Hotline: 012.5800.5800

  • thiết bị nuôi

    hotline: 012.5800.5800

  • Giống thủy đặc sản

    Hotline: 012.5800.5800

  • Thuốc và hóa chất

    Hotline: 012.5800.5800

Showing posts with label Nuôi lươn. Show all posts
Showing posts with label Nuôi lươn. Show all posts

Phòng và trị bệnh cho lươn

Một số bệnh ở lươn
Bệnh sốt nóng
- Do lươn nuôi với mật độ dày, lươn bị xáo động trong bể, quấn quýt vào nhau, dịch nhày tiết vào trong nước, lên men, độ nhớt tăng lên, làm nhiệt độ nước tăng lên, hàm lượng oxy giảm. Đầu lươn sưng phồng to, lươn chết hàng loạt.
- Phòng trị: Giảm mật độ nuôi, thay nước; có thể thả tạm vài con cá trê để chúng ăn thức ăn thừa; đề phòng lươn cuốn vào nhau, bảo đảm tốt chất lượng nước. Khi phát hiện bệnh dùng dung dịch sulphate đồng 0,07%, 5ml/m3 nước.
Bệnh tuyến trùng
- Do ký sinh trùng đường ruột gây ra. Tuyến trùng có màu trắng, dài khoảng 1cm, đầu bám vào niêm mạc phá hoại mô, hình thành bào nang gây viêm ruột sưng đỏ. Nếu ký sinh với khối lượng lớn, lươn yếu, hậu môn sưng đỏ, sẽ chết dần.
Bệnh lở loét
- Bệnh do ký sinh trùng, vi trùng bám vào vết thương.
Trên mình lươn xuất hiện nhiều vết tròn, hình bầu dục. Da lươn bị lở loét, bơi lội khó khăn. Đầu lươn ngóc lên khỏi mặt nước, bệnh này thường xảy ra vào tháng 5-9.
- Trị bệnh: trước khi nuôi sát trùng bể bằng vôi. Khi mắc bệnh cần phun thuốc Streptomycin ở toàn bể, dùng 250.000UI/m3; dùng 0,5g Sulffamidine trộn vào thức ăn cho 50kg lươn ăn, mỗi ngày 1 lần, điều trị mỗi đợt 5-7 ngày; trực tiếp bôi thuốc tím vào vết loét.
Bệnh nấm thuỷ mi
Bệnh do ký sinh trùng trên mình và trứng lươn gây nên, thường xảy ra vào mùa xuân thu.
- Trước khi thả lươn, phải vệ sinh bể nuôi; hoà tan 100-150g vôi tưới khắp bể; ngâm lươn vào trong nước muối 3-5% trong 3-5 phút, ngâm trứng lươn vào dung dịch xanh Methylen 1/50.000 trong 10-15 phút, ngâm trong 2 ngày, mỗi ngày một lần; hoà Sodium bicarbonate với nước tỉ lệ 0,4%o, tưới khắp bể nuôi.
NTNN, 15/6/2004

Phòng và trị bệnh cho lươn
Lươn là loài sống chui rúc ở dưới bùn, chúng có sức chịu đựng cao ở ngoài thiên nhiên, nhưng khi nhốt vào nuôi với mật độ dày lươn dễ bị bệnh. Dưới đây là một số bệnh thường gặp và cách phòng trị.
1. Bệnh sốt nóng: Bệnh do nuôi với mật độ dày, dịch nhầy lươn tiết ra, lên men và khi nhiệt độ nước tăng lên hàm lượng oxy giảm. Lươn bị xáo động trong bể, quấn quýt vào nhau, dịch nhầy tiết vào trong nước, độ nhớt của nước tăng lên, đầu lươn sưng phồng to, lươn chết hàng loạt.
- Phòng trị: Giảm mật độ nuôi, thay nước, thả tạm vài con cá trê để chúng ăn thức ăn thừa đề phòng lươn cuốn vào nhau, bảo đảm tốt chất lượng nước. Khi phát hiện bệnh có thể dùng dung dịch Sulphate đồng 0,07%, mỗi mét khối nước, tưới 5ml dung dịch trên trong toàn bể.
2. Bệnh lở loét: Nguyên nhân thường do ký sinh trùng, vi trùng bám vào vết thương.
Triệu chứng trên mình lươn xuất hiện nhiều vết tròn hay hình bầu dục. Da lươn bị lở loét còn gọi là bệnh đóng dấu, nếu bị nặng đuôi lươn bị rụng đi, bơi lội khó khăn, đầu lươn ngóc lên khỏi mặt nước, bệnh này thường xảy ra vào tháng 5-9.
- Phòng trị: Trước khi nuôi sát trùng bể bằng vôi, vào mùa hay mắc bệnh cần phun thuốc Streptomycin ở toàn bể, dùng 250.000 UI/m2. Cứ 50 kg lươn dùng 0,5g SulFamidine trộn vào thức ăn cho lươn ăn, mỗi ngày một lần, điều trị mỗi đợt 5-7 ngày. Trực tiếp bôi Potassium permanganate (thuốc tím) vào vết loét.
3. Bệnh nấm thủy mi: Do mốc ký sinh trùng trên mình hay trứng lươn gây ra, thường xảy ra vào mùa xuân - thu, sợi hình bông bám vào lươn để hút dinh dưỡng.
- Phòng trị: Trước khi thả lươn vệ sinh bể nuôi, 100-150g vôi hòa tan tưới vào bể. Ngâm lươn vào nước muối 3-5% trong 3-5 phút, ngâm trứng lươn vào dung dịch xanh Methylen 1/50.000 trong 10-15 phút liên tục 2 ngày, mỗi ngày một lượt. Trộn nước và Sodium bicarbonate 0,4%o thành dung dịch tưới toàn thể bể nuôi.
4. Bệnh tuyến trùng: Do ký sinh trùng đường ruột gây viêm ruột sưng đỏ. Nếu ký sinh với khối lượng lớn, lươn yếu, hậu môn sưng đỏ, sẽ chết dần.
5.. Bệnh đỉa: Do đỉa bám vào phần đầu lươn gây ra để phá hoại mô bì hút máu lươn khiến cho vi trùng xâm nhập gây viêm nhiễm, lươn yếu, kém ăn, ảnh hưởng đến sinh trưởng của lươn. , hay dùng dung dịch Sulphate đồng nồng độ 100 ppm (25 kg nước + 2,5g Sulphate đồng) ngâm rửa 5-10 phút.
KHÁNH DƯƠNG (Báo Nông thôn ngày nay) - E-Nhân dân, 23/12/2003



Sản xuất lươn giống

Trước đây nguồn lươn giống tự nhiên tương đối nhiều, nhưng do đánh bắt chưa đi đôi với bảo vệ, môi trường thay đổi,... nên gần đây nguồn lươn giống càng cạn kiệt. Bởi vậy, muốn có đủ lươn giống, phải chủ động vừa lấy giống ngoài thiên nhiên vừa cho lươn đẻ nhân tạo.
Lấy trứng, lươn con về ương nuôi
Hàng năm cứ đến mùa lươn đẻ, nhìn kỹ ở mép bờ, bờ ao, bờ mương thấy ở các khe hở có các khối bọt trắng, đối diện là các lỗ hút (thường ở ruộng lúa, nơi con lươn đực gác bảo vệ), để phát hiện lươn con.
Dùng vợt xúc lươn con đem về thả vào các khay men, chậu nhựa, cho ăn bằng lòng đỏ trứng luộc chín và giun đỏ.
Ở miền Nam nước ta vào đầu mùa mưa khi nước sông Cửu Long đổ về, lươn con thường nằm ở các đám cỏ, bèo tây trôi theo dọc dòng sông ở các hồ, đầm, kênh... dùng vợt, rổ, xúc về nuôi.
Vớt trứng về ấp
Từ các khối bọt trắng biểu hiện lỗ đẻ của lươn, chúng ta có thể dùng gáo, vợt có mắt lưới dầy để vớt các ổ trứng cho vào thùng có sẵn nước đưa về bể ấp. Khi nhiệt độ nước 25-30oC, sau một tuần trứng nở thành lươn con, vớt lươn con ra ương ở ao, thức ăn là giun, dòi, ốc băm nhỏ.
Nếu được chăm sóc tốt, nuôi đến cuối năm có thể đạt cỡ 20 g/con.
Nuôi lươn cho đẻ ở bể xây
Tại Trạm Nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng Tiên Sơn (Hà Bắc), đã nuôi thử lươn cho đẻ.
Xây bể (hình 2)
Cần tạo điều kiện môi trường sống của lươn gần với điều kiện sinh sản ở ngoài thiên nhiên.
Xây bể bằng gạch trát xi măng.
Diện tích: 3 m2.
Chiều cao 1,4 m, chiều rộng 1,5 m, dài 2 m.
Đáy bể cho một lớp bùn dầy (D) để lươn tránh nóng, tránh rét.
(A)  khoảng 1/3 thể tích của bể cho đất pha sét, dày 60 cm.
(B)  lớp đất thịt dầy 20 cm làm bờ trồng vài cây khoai nước, nơi lươn đẻ.
(C)  lớp nước bể sâu khoảng 40-50 cm, trên mặt thả ít bèo tây.
Giữa bể có cũi làm bằng tre có thả phên tre kéo lên xuống, nơi cho lươn ăn để dễ kiểm tra.
Thả 20 con lươn cỡ 30-40 cm đang mùa lươn đẻ.
Cho ăn: ngày 2 lần.
Thức ăn bằng động vật như: ốc sên, cá băm nhỏ, dòi. Thức ăn bằng thực vật như: rau muống, bèo tấm ủ chua trộn với cám, bã đậu.
Mỗi lần cho ăn khoảng 100-300 g, nhận thấy lươn ăn ít các thức ăn bằng thực vật.
Mỗi tuần thay nước một lần.
Sau 30 ngày nuôi thấy 4 tổ lươn đẻ (hiện tượng nổi bọt ở gốc cây khoai lang). Sau 1 tháng bắt được 300 lươn con, cỡ 8-12 cm bám ở rễ bèo Nhật Bản.
Sau 2 tháng nuôi lươn thịt với mật độ 30 con/m3 (cỡ 20-30 cm), trọng lượng lươn tăng 50% so với lúc thả.
 Nguồn: KS. NGÔ TRỌNG LƯ

Cho lươn đẻ bằng phương pháp nhân tạo ở Trung Quốc
Kỹ thuật sản xuất lươn giống về cơ bản giống kỹ thuật sản xuất cá giống, nhưng vì lượng trứng của lươn ít (khoảng 80 đến 1.100 trứng trên một cá thể) nên cần nhiều lươn bố mẹ.
a. Chọn lươn đực cái (bố mẹ)
Có thể chọn từ lươn đã nuôi hay lươn mua ở chợ (phải lựa con khỏe, không bị xây xát), lươn cái cỡ dài 25 -30 cm nặng 100-200 g có bụng trứng to, ấn nhẹ thấy mềm, lỗ sinh dục đỏ, da mỏng.
Con đực chọn con cỡ 150-250 g, ấn nhẹ tay thấy tinh dịch màu trong suốt chảy ra. Đuôi con đực thường dài hơn con cái, đầu thon mõm nhọn, hay hoạt động mạnh hơn con cái.
b. Cho lươn đẻ
Cho lươn đẻ vào tháng 4-5 khi nhiệt độ nước 23-27oC, có thể dùng các loại thuốc LRH-A, HCG và não thùy cá chép để kích thích lươn đẻ.
Tốt nhất là dùng LRH-A tiêm một lần, lươn cái cỡ 50-250 g, tiêm 10-30 (g/1 con. Dùng khăn mềm lau sạch và giữ cho lươn khỏi cựa, tiêm vào xoang ngực, mũi kim sâu không quá 0,5 cm, dung dịch thuốc tiêm không quá 1 ml/con.
Sau khi tiêm cho lươn cái 24 giờ, tiêm cho lươn đực, lượng tiêm 10- 20  con.
Sau khi tiêm xong thả lươn vào bể hoặc giai chứa để theo dõi, nước trong bể không sâu quá khoảng 20-30 cm là vừa, một ngày thay nước một lần. Ở nhiệt độ nước 25oC sau khi tiêm được 40 giờ, lưu ý phải kiểm tra liên tục 3 giờ một lần vì thời gian hiệu ứng của lươn cái rất khác nhau, nên phải kiểm tra tới giờ thứ 75 (sau khi tiêm) mới kết thúc.
Cách kiểm tra: Bắt lươn cái khẽ ấn bụng trứng, có trứng rời ra lập tức bố trí thụ tinh nhân tạo.
c. Thụ tinh nhân tạo
Bắt lươn cái đã rụng trứng lau sạch bụng ép nhẹ cho trứng chảy ra dụng cụ chứa trứng (bô con hay đĩa sứ), khi tắc thì dùng kéo con rạch lỗ sinh dục 0,5 -1 cm để ép trứng chảy ra, ép 3-5 lần thấy hết trứng thì thôi.
Lấy trứng xong lập tức cho tinh dịch vào thụ tinh bằng cách mổ lươn đực lấy một phần tinh sào, soi vào kính hiển vi (độ phóng đại 400 lần) nếu thấy tinh trùng hoạt động bình thường thì lấy cả buồng sẹ (tinh sào) ra cắt vụn bỏ vào đĩa chứa trứng, nhẹ tay khuấy đều (1 con đực dùng 2-3 con cái), sau đó dùng 200 ml nước muối sinh lý cho vào, sau 5 phút cho nước sạch vào rửa hết tạp chất rồi đưa trứng vào ấp.
d. Ấp trứng lươn
Dụng cụ ấp như đĩa sứ, bô con, giai chứa, bể kính v.v... đều được. Kích cỡ dụng cụ ấp tùy số lượng trứng nhiều hay ít.
Rải trứng ở đáy dụng cụ ấp, dùng nước sạch, sâu 10 cm, cần thường xuyên thay nước. Không để nhiệt độ ấp và nhiệt độ nước chênh quá 5oC. Nếu khống chế nhiệt độ ấp ổn định khoảng 24oC, thời gian nở khoảng 240-280 giờ, tỉ lệ nở 80 -95%, lươn bột sau khi nở 24 giờ có chiều dài thân 16-21 mm, sau 72 giờ dài 19  mm, sau 120 giờ dài 22-30 mm, sau 144 giờ dài 23-33 mm.
Trong thời gian trên lươn bột sống nhờ dinh dưỡng của noãn hoàng, luôn cựa mình bơi trong nước rồi chìm xuống đáy nằm nghỉ. Hết giai đoạn lươn bột chúng bơi nhanh trong nước và bắt đầu tìm mồi như giun đỏ để ăn.
e. Ương lươn giống
Ương trong bể xi măng loại nhỏ, sâu 30-40 cm, mặt bể cao hơn nền đáy bể 20 cm, đề phòng nước tràn lươn con đi mất. Bể ương có chỗ cho nước vào và lỗ nước ra, có lưới cước bịt không cho lươn con chui qua.
Diện tích bể ương: 1-2 m2, lớn nhất không quá 10 m2. Đáy bể cho lớp đất dày 5 cm, bón lót phân lợn, phân bò 0,5-1 kg/m2, cho ngập nước 10-20 cm, cấy giống giun vào đáy bể. Đưa lươn bột đã nở 5-7 ngày (đã hết noãn hoàng) vào ương.
+ Mật độ ương: 100-200 con/m2
Thức ăn nuôi vài ngày đầu tốt nhất là ăn giun con, động vật phù du, có thể tăng dần bằng thịt cá xay nhuyễn. Không thả lẫn con to với con nhỏ vì chúng dễ ăn thịt lẫn nhau.
Hàng ngày cần chú ý thay nước. Sau khi ương một tháng lươn con dài trung bình 8 cm, đến vụ ương sẽ thu được khoảng 100 con/m2, lươn giống có chiều dài bình quân 15 cm nặng 3 g.
+ Mật độ ương: 150-200 con/m2
Cho ăn bằng giun đất, dòi, một ít cám, cơm, ngọn rau. Ngày cho ăn hai lần.
Số lượng thức ăn bằng 8-10% tổng trọng lượng lươn, sau một tháng dài 50-55 mm, nuôi tiếp ở bể khác. Mật độ 100-120 con/m2 cho ăn giun, dòi, các động vật khác... và 2 -3% thức ăn chế biến.
Năm đầu lươn dài 15-25 cm, nặng 5-10 g/con, cá biệt có con nặng 10-15 g/con.
Chú ý:
Trước khi thả lươn 10-15 ngày phải tiêu diệt hết cóc, nhái, bón 100-150 g vôi bột/1 m2 tháo nước vào ngâm sau một tuần lễ tháo hết nước và dẫn nước mới vào.
Giữ sạch nước là điều quyết định thành bại khi nuôi lươn giống, đảm bảo đủ lượng oxy, nước ở bể sâu 10-15 cm.
Quan sát lươn hoạt động, vớt thức ăn thừa ở sàn cho ăn, kiểm tra vòi, van nước...
 Nguồn: KS. NGÔ TRỌNG LƯ-2004

Từ sự hiếu kỳ trở thành ông chủ trại lươn giống
"Bén duyên" với con lươn đã 16-17 năm, nhưng mãi tới nay anh Huỳnh Ninh Hà, ở xã Long Đức, huyện Long Thành mới công bố nghề này: nghề nuôi lươn đẻ! Những câu chuyện về nuôi lươn khá lý thú của người thương binh mang trên mình gần 20 vết thương này đã lôi cuốn được nhều người đến thăm trại nuôi lươn của anh.
Từ chuyện lươn cái biến thành lươn đực... 
Chúng tôi đến thăm trại lươn của anh Hà vào lúc anh đang chuẩn bị đưa lươn đi giao cho khách hàng. Khi được hỏi về nguyên do đến với nghề nuôi lươn, anh Hà cười hóm hỉnh: "Tất cả cũng tại con lươn đực đây. Lúc trẻ tôi cứ nghe mọi người bảo lươn cái chỉ sau 3 lần đẻ (3 năm) là chúng biến thành con lươn đực. Vậy là tôi đi bắt lươn về nuôi thử, ai ngờ đúng vậy thật. Lươn cái sau 3 lần đẻ sẽ không sinh sản nữa. Khi mổ ra bên trong thấy có tinh hoàn và buồng trứng biến đi đâu mất! Qua quá trình nuôi, tôi thấy thích rồi mê luôn. Nhiều người vẫn đùa là tôi mê lươn quên hết cả chuyện gia đình...".
Năm nay anh Hà đang bước sang tuổi 50, nhưng đã có gần 20 năm  tìm hiểu về loài này. Anh kể: "Ngày mới nuôi thử nghiệm ở Long Thành, tôi thấy 1 năm chúng sinh sản tới 3 lứa và 2 năm đẻ tới 6 lứa. Tôi nghĩ câu chuyện truyền khẩu dân gian cho rằng lươn đẻ 1 năm 1 lứa, đồng thời sau 3 lứa biến thành con lươn đực chẳng lẽ sai? Sau này tôi mới biết, mỗi năm lươn đẻ 1 lần vào đúng mùa thay đổi thời tiết. Sau khi chúng có chiều dài đạt hoảng 57cm thì chúng không phát triển buồng trứng nữa mà cơ quan sinh dục đực phát triển và biến thành lươn đực. Một số lươn khi mổ ra thấy chúng có cả buồng trứng và cả cơ quan sinh dục đực (lươn pê-đê)" 
Nuôi lươn : Nghề giản đơn và nhàn hạ...
Bắt đầu tìm hiểu về nuôi lươn từ những năm 1988 - 1989 nhưng do bận làm việc ở một công ty và thiếu vốn nên phải đến năm 2004 anh Hà mới chính thức bước vào nghề sản xuất lươn giống.
Với hơn 10 chiếc bể bằng xi-măng to nhỏ khác nhau, anh đã nuôi đủ loại, từ lươn 10 ngày tuổi đến lươn hơn 1 năm tuổi. Trong đó, anh đang tự khảo nghiệm 4 mô hình: nuôi lươn ở nước trong và dây ni-lông; nuôi lươn ở nước trong và lục bình; nuôi lươn theo kiểu tự nhiên trong bùn và nuôi lươn ở dưới kết hợp nuôi trùn quế bên trên. Anh Hà cho biết, nuôi lươn theo dạng "không bị lấm đầu" (nuôi bằng nước trong và lục bình hoặc ni-lông) thì chậm lớn hơn so với nuôi lươn trong sình (đắp sình trong bể giả môi trường tự nhiên). Theo tính toán của anh, thì nuôi 1kg lươn giống sau 3 tháng sẽ được 8 kg lươn thương phẩm, bán với giá tối thiểu 60.000đồng/kg, trừ chi phí cũng còn lãi 280 ngàn đồng/ lứa. Anh Hà cho biết, nuôi lươn khá đơn giản và nhàn. Những hộ chưa có điều kiện xây bể xi-măng thì có thể làm bể bằng đất mua tấm bạc ni-lông quây lại là nuôi được. 1m3 bể có thể nuôi được khoảng 1kg lươn giống. Thức ăn của lươn cũng khá phong phú, gồm: ốc bươu vàng, cá hư, trùn quế... Những hộ chăn nuôi bò thì càng tiện lợi, nếu áp dụng theo mô hình tận dụng phân bò nuôi trùn quế bên trên và nuôi lươn ở dưới sẽ không phải cho lươn ăn và một người có thể nuôi 20kg lươn giống mà vẫn có thời gian làm thêm việc nhà. Anh nói: "Nuôi theo mô hình này nhàn lắm, trùn lớn lên chui xuống, còn lươn đói lại chui lên tìm trùn ăn, mình chỉ mất mỗi công bổ sung phân cho trùn và tưới nước giữ độ ẩm. Gọi là nuôi lươn công nghiệp chứ hoàn toàn không có một chút nào là thức ăn công nghiệp, toàn bộ là thức ăn thiên nhiên hết. Chính vì vậy vừa rồi mấy ông Tây vào đây xem khoái lắm và đã bàn hợp đồng mua lươn, nhưng mỗi ngày họ đòi phải có tới 500kg đến 1 tấn lươn, tôi không đáp ứng đủ nên đành thôi".
Anh Hà còn cho biết, anh muốn xây dựng trại lươn giống chuyên nghiệp nên đã thế chấp tài sản cho ngân hàng và được ngân hàng hứa cho vay đủ vốn nhưng đến khi công trình xây dở dang, ngân hàng chỉ giải ngân cho 50 triệu đồng! Số tiền này cộng vốn tự có vẫn chưa được một nửa vốn cần thiết nên anh phải chạy mượn anh em mỗi người một ít, nhưng làm mãi mà vẫn chưa xong".
Anh Hà có dự định sẽ chuyển giao kỹ thuật cho bà con nông dân và đứng ra cung cấp con giống, mua lại lươn thương phẩm. Anh nói: "Nếu làm xong trại lươn giống này, công việc đầu tiên là tôi sẽ kết hợp với những hội cựu chiến binh ở địa phương để tạo điều kiện về con giống và kỹ thuật cho anh em phát triển kinh tế gia đình nhưng rất tiếc nguồn vốn đến nay vẫn chưa xoay xở đủ...".
 Vân Nam (http://www.dost-dongnai.gov.vn/cattien - 26/04/2006)

Kinh nghiệm nuôi lươn không bùn

An Hòa (Tây Ninh)
Cách đây vài ngày, ông Nguyễn Chánh Thành, Chủ tịch Hội nông dân xã An Hòa (Trảng Bàng - Tây Ninh) thu hoạch đợt lươn.
Ông Thành kiểm tra chất lượng lươn nuôi.
Sau một thời gian tìm hiểu nghề nuôi lươn, năm 2009, ông Thành quyết định cải tạo chuồng nuôi heo thành các hồ nuôi lươn. Năm đầu tiên ông làm thí điểm 3 hồ nuôi lươn, với kích cỡ mỗi hồ là 6m2 (2m x3m). Sau đó ông xuống chợ đầu mối Bình Điền (thành phố Hồ Chí Minh) mua 800kg lươn giống với giá 50.000 đồng/kg về thả nuôi. Bước đầu, do chưa có kinh nghiệm nên lươn bị hao hụt nhiều, nhưng những con còn lại cũng phát triển tốt. Sau 8 tháng thả nuôi, ông Thành thu hoạch lươn. Từ đó, sang năm 2010, ông Thành mua vật tư về cải tạo toàn bộ chuồng nuôi heo thành 10 hồ nuôi lươn và thả nuôi 1.800kg lươn giống. Lươn giống ông cũng mua loại lươn xô từ chợ Bình Điền. Theo ông Thành, mua lươn giống loại này rẻ, tuy nhiên tỷ lệ hao hụt khá cao. Bình quân mỗi đợt nuôi lươn (từ 8- 9 tháng), gia đình ông Thành thu lãi được khoảng 80 triệu đồng.
Ông Thành cho biết thêm, việc nuôi lươn không bùn trong hồ nước sạch cũng khá dễ dàng. Sau khi xây hồ xong, cần vệ sinh hồ cho sạch. Sau đó thả 3 vĩ làm bằng cây le (giống như đóng vạt giường) chồng lên nhau vào hồ để làm chỗ cho lươn nằm và thả mồi cho lươn ăn. Thức ăn cho lươn là cá biển xay. Mỗi ngày cho lươn ăn một lần, vào một giờ nhất định. Và mỗi ngày phải thay nước hồ nuôi một lần, sau khi cho lươn ăn khoảng 5 giờ. Nước xả ra từ các hồ nuôi lươn được cho xuống một cái hồ ngầm. Dưới hồ này thả nuôi cá trê lai. Cá trê lai là loại chịu ăn tạp, nó sẽ ăn hết thức ăn thừa của lươn được xả ra. Từ đó người nuôi không cần phải cho cá trê lai ăn mà vẫn có thêm nguồn thu nhập.
D.H (Báo Tây Ninh, 10/06/2013)

Nông dân sáng kiến: Nuôi lươn không cần bùn
Anh Nguyễn Văn Hoàng (xã Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, TP.HCM) là một điển hình “Nông dân SXKD giỏi” cấp thành phố. Anh cũng là người đầu tiên ở Củ Chi nghĩ ra cách nuôi lươn mới, không cần bùn đem lại hiệu quả cao. Sáng kiến của anh đã thay đổi được cách nghĩ, cách làm, giúp người chăn nuôi lươn rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí thức ăn.
Anh lặn lội xuống tận An Giang để học hỏi và mua giống về nuôi thử. Lúc đầu anh cũng nuôi theo cách truyền thống, cho bùn vào bể, bơm nước và cho lươn giống vào. Sau 12 tháng vừa nuôi vừa nghiên cứu, lứa lươn đầu tiên cũng tới ngày thu hoạch.
Nhờ nuôi lươn không bùn, mỗi năm anh Hoàng "hốt bạc" 1 tỷ đồng
Nhưng lươn nuôi trong bùn bị chết gần hết mà anh không biết, vừa bước vào nghề đã bị thất bại.
"Năm 2008 một lần nữa tôi lại khăn gói đi một số tỉnh ở miền Tây, tham quan một số cơ sở nuôi lươn và tiếp tục mua giống về nuôi. Rút kinh nghiệm từ bài học thất bại đầu tiên, lần này tôi làm bài bản hơn; đặc biệt không sử dụng một tí bùn nào. Tận dụng 2 chuồng nuôi heo, sửa chữa lại và ốp gạch men, vừa chống thấm nước vừa không cho lươn bò ra ngoài. Ở dưới đáy bể có để ống thoát nước, ở trên có gắn đường nước vào.
Trước khi thả lươn giống, bơm nước vô ngâm bể 1 tuần rồi rửa sạch, xả hết nước và bơm nước mới vào. Trong bể có đóng 3 cái giàn làm bằng tre để cho lươn trú ẩn, sau đó tiến hành thả lươn giống. Khi thả lươn vào bể 2 - 3 ngày đầu không cho lươn ăn, để lươn tự thích nghi với môi trường. Thời gian đầu cho lươn giống ăn trùn quế, sau 1 tháng cho ăn cá biển xay nhỏ, cứ thế cho ăn, tháo xả nước thường xuyên và chờ tới lúc thu hoạch, anh Hoàng chia sẻ.
Qua quá trình nuôi lươn không bùn, anh Hoàng nhận thấy lươn không bị bệnh, mau lớn, suốt thời gian nuôi không phải tốn một đồng thuốc thú y nào, giảm được rất nhiều công lao động như công lấy bùn, cho ăn, thu hoạch. Đặc biệt rút ngắn thời gian nuôi từ 3 - 4 tháng. Nếu so sánh giữa nuôi truyền thống và nuôi không bùn thì nuôi không bùn nhàn hơn.
Nuôi lươn theo cách truyền thống từ khi thả con giống đến khi thu hoạch là 12 tháng. Nuôi không bùn thì chỉ mất 6 - 8 tháng là xuất bán, giúp người nuôi tiết kiệm tiền chi phí thức ăn, thuốc thú y, phù hợp cho nhu cầu tiêu thụ lươn sạch, hiệu quả kinh tế cao gấp 5 - 6 lần.
Anh Hoàng kể, từ thành công ban đầu, tôi mạnh dạn mở rộng thêm diện tích nuôi, tính đến nay đã có 3 cơ sở nuôi lươn với tổng diện tích khoảng 1.200 m2. Trong đó có 700 m2 làm khu ương giống, còn lại 500 m2 nuôi thương phẩm.
Năng suất đạt được 400 kg lươn/1 chuồng rộng 6 m2.
HIẾU CẦU (Nông Nghiệp VN, 13/06/2013)

Kinh nghiệm nuôi lươn trong bồn nylon
Ông Nguyễn Văn So, ở ấp Vĩnh Thuận, xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (An Giang) là một trong những người mạnh dạn nuôi lươn trên cạn ở ĐBSCL. Năm 2001, ông So thử dùng bạt nylon loại dày không thoát nước để lót nuôi trên cạn, thay thế cho hồ xây bằng gạch, xi măng (chỉ dùng cây cắm xung quanh để giữ bồn nuôi không bị nghiêng chảy nước ra ngoài). Thấy có hiệu quả, ông đã nhân lên 4 bồn, diện tích 150 m2, thả nuôi 250 kg lươn giống (loại 35 con/kg), chỉ sau 6 tháng nuôi, ông So bắt đầu thu hoạch lời 14 triệu đồng. Không dừng lại đó, ông So đã tăng lên hai vụ trong năm, cho đến nay ông có 9 bồn nuôi lươn trước nhà. Thu nhập từ con lươn đạt từ 76 - 80 triệu đồng/năm.
Kỹ thuật làm bồn nuôi lươn:
Nên chọn nơi khu vực đất cao, hướng về phía mặt trời, tránh gió bão, nguồn nước phong phú, chất lượng nước tốt. Diện tích xây bồn từ 10 - 30 m2 là thích hợp nhất, chỉ cần mua bạt nylon không thấm nước là có thể xây dựng thành bồn nuôi. Chiều cao mỗi bồn từ 1 - 1,3 m, bỏ đất ruộng (đang canh tác) vào trong hồ lươn khoảng 1/2 - 2/3 diện tích để cho lươn chui vào đó cư trú. Nên độn thêm rơm, cây chuối mục để tạo môi trường tốt hoặc cho lục bình hay trồng rau mác, rau dừa vào trong hồ để tạo bóng râm trong bồn. Mực nước trong bồn nuôi từ 20 - 30 cm, mực nước sâu quá, ảnh hưởng đến sức tăng trưởng của lươn. Lươn là loài không ưa ánh sáng nên trước khi bố trí bồn nuôi, phải có mái che hoặc làm giàn trồng cây leo tránh được sự thay đổi môi trường một cách đột ngột.
Chọn con giống:
Nguồn lươn ngoài tự nhiên càng lúc càng cạn kiệt, việc sinh sản nhân tạo của lươn hiện nay còn rất hạn chế, đa phần người nuôi phải mua của người dân xúc ủ, đặt trúm, đánh bắt bằng xung điện...
Lươn có 3 loại (theo màu sắc). Loại I: lươn có màu vàng sẫm, phát triển tốt nhất. Loại II: màu vàng xanh, phát triển bình thường. Loại III: màu xám tro, chậm lớn. Kích thước lươn giống thả nuôi tốt nhất 40 - 60 con/kg. Lươn giống thả nuôi phải đồng cỡ, không bị sây sát, khỏe mạnh. Mật độ thả nuôi tốt nhất từ 60 - 80 con/m2.
Cách cho ăn:
Lươn nuôi cần phải trải qua quá trình thuần hóa để quen với thức ăn. Giai đoạn từ 7 - 10 ngày đầu cho lươn ăn giun đất vào buổi tối. Sau đó, từ từ tập cho lươn ăn sớm hơn, khi lươn ăn mạnh, có thể cho ăn hai lần/ngày. Thức ăn cho lươn chủ yếu là các loại cá đồng, ốc bươu vàng, cua hoặc cá biển mua về xay ra cho ăn. Trong quá trình chăm sóc, khi cho lươn ăn, cần phải nắm vững nguyên tắc “4 định”: (định chất, định lượng, định thời gian, định vị trí) để điều chỉnh thức ăn cho hợp lý. Không nên cho lươn ăn thức ăn bị hôi thối, thức ăn dư trong bồn từ 1 - 2 giờ nên vớt bỏ ra ngoài, nếu để lâu sẽ ảnh hưởng đến môi trường nước. Khi lươn trưởng thành, trung bình mỗi ngày cho lươn ăn một lần.
Lươn mới thả vào 7 ngày cho thay nước một lần, khoảng trên 2 tháng, 4 ngày thay nước, hàm lượng oxy trên 2 mg/lít. Lươn kỵ nước bẩn.

Kĩ thuật nuôi lươn (Monopterus albus)

1. Xây dựng ao nuôi
Nên chọn nơi có địa thế hơi cao, hướng về phía mặt trời, tránh gió bão, nguồn nước phong phú, chất nước tốt, có độ chênh nhất định để tháo nước. Hình dáng kích thứơc ao tuỳ theo qui mô nuôi mà quyết định, ao nhỏ có thể vài m2, ao lớn 100m2, nhìn chung từ 10 - 20m2 là thích hợp, nước sâu 0,7 - 1m, ao đất hoặc ao xi măng đều được, chỉ cần nắm vững nguyên tắc phòng được lươn bò đi, dễ đánh bắt, lấy nước vào và tháo nước dễ. Có 2 kiểu ao nuôi lươn chủ yếu :
- Ao xi măng: Bờ ao xây bằng gạch đá trát xi măng, đáy ao trát bằng đất sét trộn cát vôi. Cách đáy ao khoảng 40 cm có một lỗ cống thoát nước hình tròn, miệng cống có thiết bị chắn không cho lươn trốn đi, ao xây xong lót dưới đáy 1 lớp bùn mỏn 20 - 30cm, hoặc bùn nhão với cỏ thành 1 lớp hữu cơ bón đáy ao tạo điều kiện cho lươn đào hang làm ổ, sau đó lấy nước vào, mức nước sâu 7 - 15cm, bờ ao cao hơn mực nước 30 cm;
- Ao đất: Chọn nơi đất cứng, đào sâu xuống 20 - 40cm, lấy đất đào ao đắp bờ cao 40 - 60 cm, rộng 1m, bờ phải nện chặt từng tầng lớp một, đáy ao sau khi đào xong cũng phải nện và lót chặt. Nếu có điều kiện đáy ao lót 1 lớp ni lông khắp đáy và tường bờ rào phủ 1 lớp bùn hoặc trộn cỏ như trên (20 - 30 cm).
Trong ao có thể thả một ít bèo tây hoặc bèo cái làm nơi trú ẩn cho lươn, xung quanh ao trồng một ít cây có dàn để mùa hè che mát giảm bớt nhiệt độ nước ao.  
2. Kỹ thuật nuôi
2.1 Lấy giống 
Hiện nay chủ yếu vẫn là thu giống tự nhiên hoặc vớt lươn bột, vớt trứng về ấp.
- Vớt lươn bột: Hằng năm cứ đến mùa xuân khi nhiệt độ nước lên trên 15oC, lươn con sau khi trú đông rầm rộ kéo nhau ra khỏi hang để kiếm mồi, lúc đó là mùa vớt lươn con đem về nuôi. Thao tác thường tiến hành vào chiều tối, cho mồi vào lờ, dùng đèn, đuốc soi, dùng vợt tam giác đón vớt ở các mương, ao, bờ có nhiều thực vật mọc. Nếu mua giống ở các chợ phải chọn giống rất cẩn thận lươn con (mỗi kg khoảng 30 - 40 con), khoẻ mạnh, không bị thương, đặc biệt chú ý không mua lươn bị câu làm lươn giống.
- Vớt trứng về ấp: Mùa hè từ tháng 5 - 9 là mua lươn sinh sản, người ta đi tìm những nơi bờ ruộng bờ mương, ao, hồ nơi có nhiều cây cỏ mọc có những đám bọt khí nổi lên, dùng gáo hay vợt có mắc lưới dày để vớt các ổ trứng cho vào thúng có sẵn nước đưa về ao ấp. Khi nhiệt độ từ 25 - 30oC sau một tuần trứng nở thành lươn con, vớt lươn con đem ra ương ở ao ương. Thức ăn dùng để nuôi là lòng đỏ trứng gà luộc chín, tảo, giun ít tơ, dòi, giun, ốc băm nhỏ ...
2.2. Nuôi lươn thịt 
Ðến mùa xuân dọn tẩy ao để đón giống thả nuôi qui cỡ giống là 30 - 40 con/kg, phải chọn cỡ đồng đều nhau, không được nuôi lẫn con to con nhỏ đề phòng lươn có thể ăn thịt lẫn nhau. Thời gian thả cuối tháng 3 đầu tháng 4. Mật độ thả phải căn cứ vào điều kiện môi trường và trình độ quản lý của người nuôi mà quyết định, thường thường 80 - 160 con/m2. Trước khi thả nuôi dùng dung dịch nước muối 4 tắm cho lươn. Nuôi như vậy có thể đạt sản lượng 5 - 10 kg/m2.
2.3 Thức ăn
Ngoài thức ăn động vật ra cũng có thể cho ăn cám, bã đậu, các loại rau quả băm vụn. Sau khi thả giống vài ngày chưa vội cho lươn ăn mà để nó thích nghi với môi trường mới từ 3 - 5 ngày rồi mới bắt đầu cho ăn. Mới đầu cho ăn giun, sau cho ăn lẫn với thức ăn hỗn hợp đến khi lươn đã quen thì cho ăn hoàn toàn thức ăn hỗn hợp. Lươn có tính lựa chọn thức ăn rất cao. Nó đã ăn quen một loại thức ăn nào đó muốn đổi thức ăn khác rất khó. Vì vậy, trong giai đoạn đầu cần phải thuần dưỡng, cho ăn các loại thức ăn dễ kiếm, giá rẻ, tăng trọng nhanh.
Khi cho lươn ăn phải nắm vững nguyên tắc "4 định" (định chất, định lượng, định thời gian, định vị trí". Ðịnh chất lượng là phải ăn no và thức ăn phải luôn tươi sống, tuyệt đối không cho ăn thức ăn thối, trong phạm vi nhiệt độ thích hợp, nhiệt độ cao cho ăn số lượng nhiều, đầu vụ cho ăn khoảng 3 - 4% trọng lượng lươn, giữa vụ 5 - 8%. Ðịnh thời gian tức là từ 15 - 17h chiều, sau khi nó đã quen có thể cho ăn sớm dần và tập thành cho ăn ban ngày. Ðịnh vị là chỗ cho ăn phải cố định, sàn cho ăn bằng gỗ, đáy sàn làm bằng lưới săm.
2.4 Quản lý ao nuôi
- Phòng chất nước bị ô nhiễm: Ao nuôi lươn yêu cầu nước béo, lưu thông, sạch, hàm lượng O2 trên 2mg/l. Do bể nuôi lươn rất nông chỉ có 10 - 15cm mà thức ăn lại giàu đạm nên nước rất dễ bị nhiễm bẩn ảnh hưởng đến tính bắt mồi và sinh trưởng của lươn. Khi nước quá bẩn thì nửa thân trước của lươn thẳng đứng trong nước, đầu nhô lên mặt nước để thở, gọi đó là hiện tượng "đánh xuân". Khi có hiện tượng đó phải nhanh chóng thay nước mới vào. Ðể phòng tránh chất nước nhiễm bẩn thì từ 5 - 7 ngày thay nước 1 lần. Mùa hè nhiệt độ cao thời gian thay nước ngắn hơn, thường xuyên vớt bỏ thức ăn thừa, rác bẩn ...
- Phòng nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp: Mùa hè nắng nóng phải che hoặc làm dàn cho mát hoặc thả nuôi trong ao một ít rong bèo, thường xuyên thay nước. Mùa đông quá rét che chắn gió mùa đông bắc. Khi nhiệt độ dưới 10oC tháo cạn nước bể, chỉ giữ lại một ít đồng thời phủ lên 1 lớp rơm hay cỏ giữ nhiệt độ lươn qua đông được an toàn.
- Phòng lươn bò trốn: Lươn rất hay bò trốn đi nơi khác nhất là lúc trời mưa liên tục, nước dâng lên, lươn theo đáy mà bò ra ngoài, hoặc chỗ cống bị thủng lươn cũng theo đấy bò đi, hoặc đáy thánh bển bị nứt nẻ lươn chui ra ngoài ... Vì vậy, phải thường xuyên kiểm tra phát hiện có những khe hở phải kịp thời sửa chữa.
Minh Dũng  (Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản - 12/2001)

Kỹ thuật nuôi lươn thịt
Lươn là loài cá sống chui rúc ở dưới bùn, điều tiên quyết để nuôi lươn có kết quả là phải đảm bảo nguyên tắc: Lươn không bò trốn đi mất, tạo môi trường sống tương tự gần giống với chúng sống ở ngoài thiên nhiên.
Tùy điều kiện: địa hình, quản lý, chăm sóc, giống lươn, thức ăn, phòng trị bệnh tật... mà có các hình thức nuôi khác nhau.
1. Bể xây nuôi lươn
Chọn nơi dễ lấy nước vào và thoát nước ra, nước chảy quanh năm càng tốt.
Bể nuôi lươn có nhiệm vụ chính là ngăn chặn, nhưng cũng nên phù hợp với điều kiện sống tự nhiên của lươn. Trước hết, bể phải đảm bảo độ cao để lươn không vượt qua được. Độ cao tối đa mà lươn có thể dựng thân vào tường để ngoi lên là 2/3 chiều dài thân chúng (ví dụ: lươn dài 60 cm có khả năng dựng thân tới 40 cm). Thứ hai, không nên xây bể quá rộng vì khó chăm sóc. Chiều dài của mỗi bể nuôi có thể từ 2-5 m. Nếu có địa thế xây dài thì nên ngăn thành nhiều bể.
Một số cơ sở đã xây bể theo kích thước: rộng 1 m, dài 3-5 m và cao 1-1,2 m: bằng gạch, đá, trát xi măng.
Tốt nhất là bể được xây chìm dưới mặt đất từ 20-40 cm, đáy đổ lớp bùn nhuyễn cũng khoảng 20-40 cm, lớp nước 10-20 cm. Ở một đầu bể, ta đổ một lớp đất sét pha thịt cao 50-60 cm, rộng ít nhất 40-50 cm để lươn vào làm tổ. Phía trên lớp đất trồng cỏ, rau khoai... để giữ đất và che mát. Cần bố trí một nơi cố định trong bể làm chỗ cho lươn ăn để tiện việc theo dõi lươn ăn và làm vệ sinh khi thức ăn còn thừa.
Nguồn: KS. NGÔ TRỌNG LƯ-2004

Kỹ thuật nuôi lươn mới
1. Xây dựng ao bể nuôi
Có thể nuôi lươn trong bể xây hoặc trong ao đất, tuỳ từng hộ gia đình vận dụng. Diện tích bể xây thường từ 10 - 20m2, loại lớn 50 - 100m2, sâu nhất 1m, thành bể cần láng nhẵn; đáy bể phải nện chặt trên phủ 1 lớp bùn sạch độ 30 cm, hoặc đổ lớp đất pha sét hay đất màu xốp trên 1/2 diện tích đáy bể. Ðiều chỉnh mức nước nuôi từ 20 - 40 cm. Bờ của ao, bể cần cao hơn 30cm so với mặt nước. Ao, bể đều phải có cống cấp và cống tiêu nước, miệng cống phải bịt lưới chống lươn chui mất. Trên mặt bể có thể trồng cây chịu nước hoặc thả bèo.
2. ương lươn giống
Trước khi ương phải dọn sạch và sát trùng ao, bể nuôi. Khi mực nước còn 10cm, cứ 10m2 dùng 2 - 2,5 kg vôi sống để khử trùng. Sau độ 10 ngày có thể thả lươn giống. Mật độ ương từ 2 - 4 kg/m2 (40 con/kg) thả 80 - 160 con/m2. Cần tắm nước muối 5% độ 5 phút để khử trùng lươn con đề phòng mang bệnh nấm vào bể nuôi.
Trong ao, bể nuôi nên thả thêm một ít chạch bùn (chạch đồng) để đảm nhiệm 2 tác dụng : một là tạo không khí cho ao, bể nuôi do chạch nhao lên nhao xuống thở liên tục; hai là để cho lươn khỏi lẫn hang ở của chúng và cuốn vào nhau do mật độ nuôi dầy, số chạch bùn thả lẫn nhiều nhất 8 - 16 con/m2. Mật độ nuôi trên chỉ áp dụng cho cơ sở lo được đầy đủ thức ăn và có kinh nghiệm tốt về quản lý ao nuôi, làm được như vậy sau 6 tháng nuôi có thể thu hoạch lươn thịt cỡ 100g trở lên. Năng suất nuôi sau 1 năm đạt 5 - 10 kg/m2.
3. Quản lý nuôi
3.1 Cho ăn theo định giờ, định lượng
Lươn chịu đói được lâu, nhưng trong quá trình nuôi không thể để lươn bị lúc no, lúc đói, hằng ngày đều phải cho lươn ăn với mức 5 - 7% trọng lượng đàn lươn. Cho lươn ăn tốt nhất là giun đất (cứ 4 - 6 kg giun có thể tăng trọng 1 kg lươn), cho ăn bằng thịt trai với mức 7% thể trọng lươn mỗi ngày, lươn sẽ tăng trọng bình quân mỗi con 0,55g/ngày. Nếu vụ nuôi là 180 ngày để tính thì hệ số thức ăn thịt trai từ 7,5 - 10 kg/1 kg lươn tăng trọng, hằng ngày cho ăn vào khoảng 6 giờ chiều.
3.2 Giữ mức nước trong ao bể thường 20cm
Thời gian nắng nóng dân cao nước đến 30 - 40cm, 1 tuần lễ thay nước 1 lần, chú ý loại bỏ sạch rác bẩn và thức ăn thừa đề phòng nước bị thối bẩn. Có thể thả bèo, trồng cây khoai nước để làm sạch nước và chỗ trú ẩn cho lươn tạo môi trường sinh thái tốt cho lươn sinh sống.
3.3 Chăm sóc lươn trong mùa rét
Khi nhiệt độ xuống thấp thì lươn chui vào hang hốc trong bùn nằm yên bất động, chống lạnh bằng :
ã Tăng độ sâu nước ở bể nuôi
ã Tháo cạn nước trong bể nhưng vẫn để bùn nhão, sau đó đắp lên đáy bể 1 lớp rơm hay thảm cỏ, không được đè nặng lên thảm làm lấp hang lỗ thông khí cho lươn thở.
Thịt lươn ngon, giá trị dược dụng cao tác dụng bồi dưỡng sức khoẻ, bổ gân cốt, khử phong hàn, lươn còn là mặt hàng xuất khẩu; nên phát triển nuôi lươn để bù đắp vào sản lượng tự nhiên ngày càng giảm sút đáp ứng yêu cầu thực phẩm cho nhân dân ă
Hồ Lư, Thuỷ sản TQ số 2/2003, TTKHCN TS - 7/2003

Đặc điểm sinh học lươn

Nuôi lươn - Bạn cần biết để thành công
1. Sinh sản
Lươn là loài cá có hiện tượng sinh sản lưỡng tính (trong tuyến sinh dục có cả tinh sào và trứng xen kẽ lẫn nhau). Ở miền Bắc nước ta cỡ lươn nhỏ hơn 20 cm hoàn toàn là cái, cỡ 36-47 cm lươn ở thời kỳ lưỡng tính, cỡ lớn hơn 54 cm hầu hết là lươn đực.
Mùa lươn đẻ chủ yếu vào tháng 3-4 dương lịch, ở miền Nam lươn đẻ vào tháng 5-6, có thể đẻ vào mùa phụ tháng 8-9 dương lịch.
Lươn làm tổ đẻ nơi đất sét pha thịt như bờ ruộng, ven kênh mương, bờ ao, chuôm... Trước lúc đẻ, lươn đực có nhiệm vụ khoét hang. Hang thường có hình chữ “U”, cao hơn mặt nước ruộng khoảng 5-10 cm. Toàn bộ khu vực hang thường có ba ngách:
Ngách phụ để thông khí cho lươn thở.
Ngách chính của tổ thường nằm sâu dưới bùn.
Ngách từ trên bờ vòng xuống, tạo thành chữ “U”.
Trước khi lươn cái tới đẻ, lươn đực phun đầy bọt trong tổ để lươn cái đẻ trứng trên đám bọt đó. Lúc đầu đám bọt có màu trắng; khi trứng sắp nở, đám bọt ngả sang màu ngà. Trong một tổ đẻ số lượng trứng biến đổi từ 80 đến 600 trứng. Cỡ lươn dài 20 cm có 200-400 trứng, dài 30 cm có 300-500 trứng, cỡ lớn có thể đạt 1000 trứng. Đường kính trứng 3,5-4 mm.
Ở nhiệt độ 30oC trong vòng một tuần lễ trứng nở ra lươn con, tới ngày thứ 10 noãn hoàng tiêu biến hết, lúc này lươn dài khoảng 20 mm có thể tự kiếm mồi được.
2. Tính ăn
Lươn là loài ăn tạp, nhưng ăn động vật có chất tanh là chính. Khi còn nhỏ, lươn ăn sinh vật phù du, giai đoạn tiếp ăn côn trùng bọ gậy, ấu trùng chuồn chuồn, đôi khi ăn các cá thể hữu cơ vụn nhỏ (rễ lúa, các tạo sợi...).
Lươn lớn ăn: giun, ốc, tôm, tép, cá con, nòng nọc và những động vật trên cạn gần mép nước như: giun, dế...
Khi thiếu thức ăn lươn có thể ăn thịt lẫn nhau, lươn tìm thức ăn nhờ vào khứu giác là chủ yếu. Mùa lươn đẻ, chúng hầu như không ăn. Nhiệt độ sống thích hợp là 22-25oC, lúc nhiệt độ xuống thấp dưới 10oC lươn ngừng kiếm ăn và đào hang sâu để qua đông. Cường độ ăn mạnh vào tháng 5-7, lươn béo vào mùa thu và mùa xuân trước khi đẻ.
3. Sinh trưởng
Lươn 1 tuổi dài 27 cm nặng 18 -60 g.
Lươn 2 tuổi dài 36-48 cm nặng 40 -100 g.
Ở miền Bắc nước ta con lớn 62 cm nặng 300 g, ở lòng chảo Điện Biên Phủ (Lai Châu) có con lươn nặng 900 g. Ở miền Nam có con nặng 1,5 kg.
Lươn con năm thứ nhất lớn nhanh về chiều dài, sang năm thứ ba trọng lượng tăng lên là chủ yếu.
Trong điều kiện tự nhiên, đánh bắt lươn có chiều dài 30-50 cm chiếm ưu thế.
Thời gian hình thành vòng tuổi của lươn vào cuối mùa xuân, sau vụ lươn đẻ.
4. Tập tính sinh sống
Lươn thường thích ở nơi đất thịt pha sét, đất bùn. Màu sắc của lươn biến đổi theo môi trường sống. Hang lươn lớn hay nhỏ tùy theo cỡ của lươn, chỗ ở thường có nhiều ngõ ngách, hang của lươn không cố định. Khi gặp người bắt, lươn có thể tháo chạy rất nhanh xuyên qua cả lớp đất tương đối rắn.
Lươn hoạt động mạnh vào mùa hè, hay đi kiếm ăn sau trận mưa rào, có khi sống 3 thángthành đàn đi kiếm ăn. Theo nhân dân cho biết, lươn có thể sống được 2  ở lớp đất sâu dưới 1 m ở ruộng khô nẻ, vì có thể nhờ vào cơ quan hô hấp phụ thở bằng họng, da...
Nguồn: KS. NGÔ TRỌNG LƯ